Minh chuông chùa An Xá – bản OCR Oct 15, 2026 · @Ngoc Hung Về bản OCR này Nguồn là 26 trang chụp một sách in (trang in 2–27; trang 2–8 bổ sung sau), gồm nguyên văn Hán, phần Phiên âm và phần dịch nghĩa của bài minh chuông chùa An Xá. Bản OCR chép theo từng trang chụp, giữ nguyên cách ngắt đoạn của sách; khoảng trống trong nguyên văn Hán là khoảng trống của sách (chỗ in cách hoặc chữ bị khuyết). Ký hiệu: □ = ô trống/chữ khuyết in trong sách; [?] = chữ đọc chưa chắc; chú thích viết tay bên lề được ghi riêng trong ngoặc vuông. Trang 2 (trang chụp bổ sung 1) CHUÔNG CHÙA AN XÁ, LONG BIÊN, HÀ NỘI Chuông chùa An Xá, châu Cơ Xá, nay thuộc phường Ngọc Thụy, quận Long Biên, thành phố Hà Nội, đúc năm Chính Hoà thứ 11 (1690) thời Lê. Thác bản và ảnh chụp do Đinh Khắc Thuân thực hiện. Thân chuông cao 0,95m, đường kính miệng 0,65m. Quai chuông cao 0,30m, ngang 0,40m, là hai hình rồng đấu lưng vào nhau. Chuông có 6 núm gõ. Tên chuông có 4 chữ đại tự là "An Xá tự chung" được khắc ở phía trên mỗi mặt chuông từ trái qua phải theo vòng chuyển Pháp luân, tương tự chiều kim đồng hồ ngày nay. Thân chuông được chia làm 4 mặt (hay múi) được ngăn cách bởi các đường kẻ nổi theo chiều dọc. Mỗi mặt đó lại được chia làm hai theo bề ngang được ngăn cách bởi gờ nổi chạy quanh thân chuông. Bốn ô phía trên thân chuông được khắc nội dung 7 chỉ dụ của phủ liêu cho châu An Xá. Còn hai chỉ dụ khác được khắc trong lòng chuông. Bốn ô phía dưới thân chuông ghi bài minh việc đúc chuông và kê tên người công đức đúc chuông. Văn bản được khắc theo cột dọc từ phải qua trái. Toàn văn chữ Hán, có tới 5.510 chữ. Văn bản không chỉ khắc trên thân chuông mà còn khắc cả trong lòng các đường gờ ngăn cách các múi chuông. Thậm chí có đoạn văn bản còn được khắc ngang trên lòng đường gờ ngăn cách ô trên và dưới của thân chuông. Nội dung này khắc sau khi đã khắc xong mong chuông, vì không còn chỗ khắc chữ nữa, nên khắc ở đây. Nội dung đoạn văn tự này nói về việc ông Lê Đăng Tiến gian lận khắc tên tước Nam, nên bị dân trình quan trên, quan trên xử phạt 30 quan tiền, bắt mài bỏ chữ khắc đó để cảnh tỉnh về sau. Lạc khoản ghi khá rõ về năm đúc chuông và người soạn viết chữ trên chuông như sau: Ngày lành tháng trọng đông (tháng 11) năm Canh Ngọ, niên hiệu Chính Hòa thứ 11 (1690). Chân truyền gia pháp, Diễn giáo Tế sinh chính phái đạo sư, kiêm Tư văn trưởng Xã chính Túc Đường nam Ngô Đăng Tiến soạn và viết minh chuông Nguyên văn chữ Hán: 安舍寺鍾 上面 (4 ô phía trên thân chuông) 安 大元帥總國政尚父平安王令旨。 慈廉縣機舍洲官員將臣社村長阮玉珍,阮玉延,阮玉珖,吳德寬,吳德曠,陶登第,黎登高,陶光輔, 阮林衛,阮嘉光,吳文後全洲上下等係所啟謂。原本洲額在內殿已恭奉立都,准居中江。無有恒產穀田,已累奉準許本洲。係遞年培築築立堤路,并稅分搜差各役。並准饒除(除諱)等因已經查實,應仍准除如原前。有係遞年培築築立堤路,并稅分等役,其奉差總幹官等衙門宜奉准除停。其勾擾違者有罪。茲令諭。 永祚元年九月十八日令旨。 Trang 3 (trang chụp bổ sung 2) 於癸亥年恭奉大元帥總國政清都王令旨。慈廉縣機舍洲官員將臣社村長阮玉延,阮玉珖,吳德仁,阮玉瑞,阮有林,黎登高,黃仲城,并阮文科,杜維謹,丁金城,阮承寵全洲上下等係所啟謂。原本洲額在內殿已奉立都准許民居中江,無有恒產田禾已累奉御准除。本洲係遞年培築,築立堤路,并稅分,及津渡搜差各役。於己未年已奉令准饒等。因已經查實,應仍准奉令如原前,有其奉差該徵總幹官,并縣官等衙門不得徵收。勾擾違者有罪,茲令。 永祚五年十二月初七日令旨。 於乙丑年恭奉大元帥總國政清都王令旨。慈廉縣機舍洲官員將臣社村長阮玉延,黎登高,陶光輔, 阮世山,阮世榮,阮林衙,阮玉瑞,黃仲城,阮壽光,阮文科全洲上下等係啟謂。原本洲額在內殿恭奉立都御准民居中江,無有恒產田禾已累奉令係遞年准饒稅分并堤路及津渡等役。至癸亥年再奉令准如原前有等。因已經查實應仍准奉除如原令。內其奉差該徵并縣官等衙門宜奉准除,不得徵收。勾擾違 2。舍 者有罪茲令。 永祚七年八月十九日令旨 於丁未年,恭奉欽差節制各處水步諸 營掌國權柄,左相太尉西國公嘉旨。慈廉縣機舍洲阮氏富,阮世山,阮世榮,阮文榜,吳文總,并吳文沛,阮子司,阮立澤,吳文成,丁如剛,阮文就,全洲上下等係啟調。原本洲額在內殿民居中江無有恒產,遞年無有稅額,常被洪水破潰,民居池狹。於癸亥年已奉令準饒稅分,并堤路,及津渡,搜差等役。至乙丑年,再奉令准如原等。因已經查實應,仍准奉如令內,其奉差該徵,并縣官不徵得收。勾擾違者有罪。茲嘉旨。 福泰五年六月二十日嘉旨 於甲午年再恭奉大元帥總國政太上師父功高仁聖清王令諭。慈廉縣機舍洲官員并將臣社村長黃仲城,丁金城,黎登強,杜維能,丁金豫,阮伯祥,黃仲榮,吳文欽,阮世濟,阮承成,吳登隆,阮日康巨小等係所啟間謂。原本洲額在內 殿,准居中江,民無產業。於己未年已奉令旨,係遞年培築築立堤路,并稅分,及津渡搜差各役并准除。至茲奉見奉差官等衙門勾催。本洲築立堤路恭乞准饒等。因 Trang 4 (trang chụp bổ sung 3) 已經查實,應仍准饒如原前。有係遞年築立培築堤路,其奉差總幹官等衙門宜奉准除停。其勾擾違者有罪。茲令諭。 盛德二年三月二十二 日令諭。 初立安舍寺洲土刊鍾敘,謹案王政之本,一圭田以厚君子,三寶土 以供佛氏。竊見安舍寺名藍古跡,實邑升龍額,在內殿准居中江是 機舍洲。欽奉李朝太祖立都,以來御旨。准在中江民無穀田,以蚕桑為業。再遞進官表係遞年並無桑根穀額,并培策在堤路,及兵分戶分。 3。寺 敕旨係須知記註東西南北依如田簿,並無稅例以為萬世。本洲之 基業是祖地中書監中書舍人廷尉使管洲侯,封賜國姓李常傑謚廣洲府 君。遞年福田以為祖地立也。昔我大越,粵自李朝立都歷至黎朝太祖 御旨。准除本洲各役如原前例。洪德拾捌年貳月拾肆日,朝列大夫戶 科都給事中阮清梁,顯恭大夫戶科都給事中阮郁,為抄選壹本。司禮 監總太監知監事福楊伯阮春蘭傳出壹本送山西道屬內慈廉縣機舍洲:東近磊梂,臨賀等社;西近廣布,安華等坊;南近翁漠決水;北近春 耕,北球等社村。上自捶翰夾三寶洲,下至翁漠決水。民居中江無穀田以蚕桑為業。原本 洲洲土以為供佛。 許給上自官員,下及民庶,妻子,每人土宅肆高口分捌高,至廢疾孤寡等項每人貳高餘。准給為三寶土以供奉佛,並無 稅額。其本洲社長阮時懿,阮永昌,阮伯往等原前朝以來累奉敕旨准。許本洲洲土并堤路,津渡稅分等役,並饒除備。申本處山西贊治承 宣使司承宣使,中貞大夫國美伯少尹郭廷 寶,山西道清刑憲察使司憲 察使楊文旦等批付本縣知縣范如忠,賴金榜等官公同查勘。果是機舍洲,並無桑根稅額修寫田遵授納衙門。南軍都督府掌事兼宗人令太保平樂伯鄭惟孝備將前鎮洲土并津渡及三寶土田畝高尺寸,逐數陳奏伏乞出自賢逾下。故巨議行奉敕旨, 欽此。鄭維孝等奉議慈廉縣機舍洲,原洲土各區其等衙門,並准饒稅額,并堤路津渡,及搜差各役如原前例。 廣和五年貳月拾五日,進功郎慈廉縣知縣武昭等,於本年二月 4。鍾 Trang 5 (trang chụp bổ sung 4) 初五日承本府莫嘉遜出壹本。本年參月拾參日特進金紫榮祿大 夫,山西道贊治承宣使司承宣使臣阮居仁謹奏,為勘洲民桑土津渡, 並無稅例事。 廣和肆年拾壹月初參日承戶部付勘壹本。其本洲原前朝洪德年間 賚奉敕旨。本洲並無桑根津渡稅額,并搜差各役,並准饒除。廣和貳年 本縣知縣武昭等查得本洲須知自前朝,歷大正玖年,以前機舍洲,原 額立殿,准許有洲土以來,並無桑根津渡稅額,并兵分戶分,及搜差 各役,並准除,奉此。阮居 仁等參許機舍洲係在中江無穀田,原土額 已奉立都於大正拾年以前,是已明白。為此備將所勘,得實事由陳奏 合無機舍洲各區洲土,該部查照施行。今阮居仁具本專差通吏武伯歲謹賚赴闕,阮居仁等謹具奏。 聞伏候敕旨。本月拾肆日晚朝端明門司禮監右提點阮公清奉敕旨,是欽此。除非所該事目外理合,備抄送機 舍洲社長照依欽奉。山事理合欽遵奉行日累朝以來,依如前例,並無 稅額,兵分戶分堤路津渡搜差各役,准除。原土立都再以供佛事以示 朝廷寬恤之心,以崇佛道,祝聖壽之脉,益傳於永久矣。 廣和五年肆月拾五日特進金紫榮祿大夫戶部尚書文場伯范正毅, 特進金紫榮祿大夫戶部左侍郎范光佐。 都元帥總國政尚父平安王,屬癸卯年奉見稟差朝臣文官海陽道監 察御史阮正,丁未年少保登郡公,乙卯年內監稅隆侯范隆凭,戊午年該徵官派郡公,及奉差內監廣良侯。己未年內監楊義侯等請尊貴衙門回本洲查勘, 前稅得准記具仍機舍洲洲土稅分堤路津渡搜差各役。至癸亥乙丑丁未等年間,再恭奉令旨,令諭准饒分,堤路津渡搜差各役如原前有以為供佛。 至丁亥年奉見奉差官都督嘉 郡公本洲查勘花額,果已詳明,並仍本洲如原前例。再恭奉嘉旨准除 稅分堤路各役,並饒以供佛為守隸。食會承司衙門,遞進官表恭過大 元帥總國政靖都王,次濟英雄,又能好此善緣,廣施功德。非惟善原於家,抑亦慶流於國,頒業官錢二拾貫,供養再恭奉。 德龍三年十月初九日。 正和拾壹年歲次庚午冬節仲月穀旦。 真傳家法,演教濟生正派道師,兼斯文長社正肅堂男吳登進撰騰。 (khắc trong lòng chuông) Trang 6 (trang chụp bổ sung 5) 大元帥總國政尚父平安王令旨慈廉縣機舍洲官員將臣社村長阮玉珍, 阮玉珖,阮玉延,吳德寔,吳德曠,陶登第,黎登高,陶光輔,阮林 衛,阮壽光全洲等係所啟。原本洲額在內殿,已恭奉立都,准居中 江,無有恒產穀田。其地分上自掛輪夾三寶洲,下至翁漠決水同仁洲社, 東近磊梂,臨賀,嘉市,愛慕等社;南近翁漠決水,東津河口,同春等坊;西近廣布,西湖,宜蚕,安華,槐街等坊;北近 春耕,岸北,梂嘉上,嘉橘等社。已累奉御准許本洲,係遞年培築, 築立堤路,并稅分,津渡,橫渡,直渡与搜差各役,許准饒除等。因 已經查實應,仍准除如原前。有係遞年培築,築立堤路,并稅分,及 津渡,橫渡,直渡等役其奉差朝官,并該徵等衙門宜奉遵准除停無徵收。勾擾違者有罪。茲令。 永祚元年二月初五日令旨。 大元帥總國政尚父平安王令旨。慈廉縣機舍洲官員將臣色目社村長阮玉延,阮玉珖,吳德仁,阮玉瑞,阮有祿, 黎登高,黃仲成,阮文科,杜真能,丁金城,阮承龍全洲等係奉差該徵官少保登郡公所啟。原本洲額在內殿恭奉立都准居中江並無稅額。例有橫渡在廣德殿變石處至嘉林縣嘉烈社地分,上自安尊天德江,下至徽文同春壮士東边壯士南边徽文西边御輦北边天德江。其直渡上自瑞香東鄂拋綱力耕兩边江等市,下至徽文河津翁漠決水等坊,裝載行客往來兵馬使臣及妻子。買賣桑葉下至大蘭中小等社市洲等因已經查實應准除如原例。有奉事香火神祠大乾國家南海四耶娘公主壽國脉。係遞年津渡橫渡直渡,其奉該徵官宜奉准饒除停其徵收勾優違者有罪。茲令 永祚二年六月二十六日令旨。 (Khắc trên khe chạy ngang vòng quanh thân chuông giữa gờ ngăn giữ ô trên và ô dưới thân chuông) 由庚午年本洲上下每人古錢貳陌米壹升,鑄得洪鍾而吳登進冒稱 為掩生堂, 男爵刻于鍾致本洲告在府僚宜應罰吳登進古錢叁拾貫進納懲假冒許本洲磨毀刻字以免後惑如敕旨各幅而彼假作其本洲無此本及彼條封祖故為賜國姓, 以為祖地此事冒詐。至辛巳年十二月日本洲論磨假此罰刻于鍾永其傳。 (下面)(Khắc trên 4 ô phía dưới thân chuông) Trang 7 (trang chụp bổ sung 6) 欽差各節制各處水步諸營掌國權柄左相太尉安國公涵養壽國匡扶能造得國甚正功德無隆(信施)錢十五貫供養。本寺誦經懺悔以為功德伏也,俾以身躬康泰,國祚綿綿以為依人之古,永久其流傳乎。茲機舍洲得津渡搜差各役並准饒為三寶土得便靈修,以為焚香祝聖,壽國脉。其本洲官員社村鄉長上下巨小等耳聞不如目見造鑄不如芳丹。乃勒金鍾永傳來世,其仁緣功德,不可量也。 福泰五年五月二十日。 安舍寺烊鑄洪鍾記。 大越國山西道國威府慈廉縣機舍洲,官員□長吳登隆,阮有義, 阮玉牌,臣阮玉堂,社正吳登進,社史阮名振,社胥胡如職,鄉長阮 光輝,何文識,陶光衙,吳文可,吳文秩,吳壽廏,阮文淡,阮有 宣,鄧文觀,阮文性,黎伯伍,阮如面,吳文教,臣吳文艷,阮壽窖,阮富衍,丁如 繞,丁得,阮文議,阮廷忖,杜維致,丁得裴,阮 有惟,阮文甲,阮文合,阮廷祿,杜文後,阮名儒,臣阮士,黎富 綿,長老阮富些, 丁金生,守役□黎文正,長番陶光低,阮文能,黎 富世,村長吳文含,陶光鄂,阮文良,阮如永,臣范士前,黎金枝, 丁金軒,何文崘,吳登仕,并阮仕怯,阮文遙,阮有祿,范仕軫,阮 文徹,杜維渚,阮玉唯。上逋甲: 吳文山,阮壽榮,阮仕來,阮世 合,黎文石,阮永壽,阮文悶,阮文席,阮承閑,并胡光信,吳 文 會。 陶光選阮承林阮廷科吳文篤申公瑜. 老東甲阮壽尊武文經阮文數陶光衛阮玉職阮廷堂阮永胎。 阮文量,黎金初,阮廷館,阮士奄。老西甲: 阮文質, 阮文隱, 阮世益,黎富處,黎允泰,阮廷併,阮如啟,阮文佐,胡如奈,阮承良,阮富綿,黃玉庶,鄧文旗,及全洲官員逋老仝社鄉色村長上下 巨小等原有古跡名藍安舍寺,未有洪鍾。玆本洲上下等制作興功,發 財造鑄洪鍾,鑿刊勒令錄在于鍾,永傳後世。 蓋聞夫鍾聲發於自然,非大聖誰其制作。粵神化軒皇一鑄而 治,金烏道遐昌,王家鼎盛。昕朝集法家拂士世本收嘉會真元。優遊樂 恬淡之場,上殿慶成,飛魚雍容奏簫韶之者有罪。茲令曲,前堂森獸,舞鳳儀,休□徵允協,箕疇淳俗胥陶,士行仰瞿曇遺教。文功輝映, 乾坤興童子遊歌,壇舞從容,氣象純孰。其境清淨,其鄉鼓而遊含而嬉,處處域躋仁壽。醉以酒飽以德,人人福享太平美哉。 Trang 8 (trang chụp bổ sung 7) 國威府慈廉縣機舍洲靈然安舍寺。其土額原在龍殿然氣運,再孕 玉洲。左青竜科教魁摽,右白虎齋壇將帥,前朱崔珥江玉倪,財泉來 沙數恒河,後玄武嶺嶺金烏。 福址等天長地久永永壽培國脉, 昭昭各播山西是景也鳳月無邊華杏可愛椅椅竹斐然君子, 宜爾室家千琥珀百茯苓森秀遊倍間()經完. 榜眼桂香惹月宮依然雲水三家婉爾() 者山天者水衆生陶和氣春風義為基德為青九天照瓊樓碧嵬巍崇挺華中梁棟洪()世. 上士民心所願意所求仰天尊而赴感得之枝民之法憑佛力以加持功業所招福利。本社上下等家道興隆,良心愛慕。迺出私財,寶器,喜施求陰德十分。 因令巧思金工圓滿,鑄洪鐘一顆,十分完好。千載鏗鏘,鐘蘆由是 不移鐘祿從。茲多食如新抄之培附,挽舊積之祖宗。蘭絲歲衍,豊鮮 蠶桑,年添茂盛。其爵,其德,其齒,世尊達賢傳三尊: 曰壽,曰富,曰 康。景福享尚書,五福如山阜,彭年皓歲興華煙裴館,張橋家家 圭組,簪嬰綿延,枝枝幹世,世冠紳,衣缽赫奕,洪雲仍此德此功,是 祿是福。雖鐫石鼓之詩,勒悟 溪之碑,不足以形容其萬一。洪鐘昭銘, 勒金闕,永流傳。 時,本洲各仕妮,并本寺功德,及普勸共使錢拾貳貫貳拾文。黎 登強字福壽,黎金榜字福廣使錢壹貫。阮光榮字福華使錢壹貫。阮文 皮字福賢使錢壹貫。黎登平字福蘭使錢壹貫。丁得奠字福山,阮文明 字福惠使錢壹貫。陶光抄字福原,阮玉籠字福誠,阮士添字清福,妻 阮氏曰: 使錢壹貫。黎文嗔字福通,阮文順字福堂,吳文顯字福增, 阮文舊字福度,丁金石字福興,阮有榮字福顯,黎文敏字福安。 一本洲各人功德共使錢。 王府侍內宮嬪阮氏平使錢五貫寄與顯考前永岩字福美府君阮文台妻吳氏秀母阮氏泛使錢五貫。鄧光林古钱一貫,阮氏料古錢陸貫,阮文平妻鄧氏弟古錢一貫,阮氏店古錢一貫,阮文急妾吳氏河古錢一貫,寄與顯考阮文才字福和。吳氏見銅五鎰寄與良夫 阮如城字福鄰道號玄息,吳文艷妻鄧氏更銅三鎰。黎文政,妻潘 氏合使錢壹貫,寄与顯考黎公字福冷,妣號慈良。阮有爵,妻阮氏制, 寄与顯考字福安。吳登隆字玄廣道號德潤,妻胡氏典,妾阮氏撙使 錢二貫,寄與顯考前濟生堂院羽 Trang 9 (trang chụp 1) 化,具師兼知□長斯文甲吳文總 字福兼道號玄先生,并妣阮洪號慈泰孺人。阮有義字道澤,妾吳氏船 使錢壹貫,寄與顯考阮貴公字福心,妣阮氏號慈敏。吳登進字玄惠,道號德澤,并妻阮氏有使錢壹貫,寄与顯祖考前官員子,兼濟生堂院 知斯文長吳德仁字福齋,道號玄通先生,并妣黎氏絲號慈在孺人,曾 祖考前 特進都使,妣阮氏。 朝俊伯阮玉牌,妻阮氏乃,范氏發等寄與顯考前朝告侯阮,妣阮 貴氏號慈在孺人,祖考前左象奇該奇官贈左都督太保文府君,并妣阮 氏刑號慈明孺人。前仁忠侯贈廣郡公阮貴公字一毋,貫屋汴上社鄭樑, 妻鄭氏攬,眾子鄭機,并鄭氏福,鄭氏祿使錢五貫寄与顯妣丁氏號 妙明,陳氏號慈恩。 一妻鄉興功并善仕信娓黎氏姑號妙緣寄与顯考字福直。本洲兵番巡有功構作齋家,并平爰及四圍竹栅,鑄鐘与日夜守把至圓滿福等河沙子孫興盛。 一普十方信,施各鄉鄰諸尊貴,并仕娓,善男信女,與百姓等從 茲功德,集福良緣,慶流苗裔。黎富泛,妻阮氏佐使錢一貫。何文緣, 妻阮氏穩使錢壹貫。吳登弟,妻阮氏匡,妾阮氏挺使錢壹貫。阮如 啟,妻胡氏靖使錢一貫。 Phiên âm: An Xá tự chung An Đại Nguyên soái Tổng quốc chính Thượng phụ Bình An vương lệnh chỉ. Từ Liêm huyện, Cơ Xá châu quan viên, tướng thần, xã thôn trưởng Nguyễn Ngọc Trân, Nguyễn Ngọc Diên, Nguyễn Ngọc Quang, Ngô Đức Khoan, Ngô Đức Khoáng, Đào Đăng Đệ, Lê Đăng Cao, Đào Quang Phụ, Nguyễn Lâm Vệ, Nguyễn Gia Quang, Ngô Văn Hậu toàn châu thượng hạ đẳng sở khải vị. [Chú thích viết tay bên lề: "hệ", kèm dấu đánh vào chữ "đẳng" trong "thượng hạ đẳng sở khải vị".] Nguyên bản châu ngạch tại nội điện dĩ cung phụng lập đô, chuẩn cư trung giang. Vô hữu hằng sản cốc điền, dĩ lũy phụng chuẩn hứa bản châu. Hệ đệ niên bồi sách, sách lập đê lộ, tính thuế phần, sưu sai các dịch, tịnh chuẩn nhiêu trừ đẳng, nhân dĩ tra thực, ưng nhưng chuẩn trừ nhiêu như nguyên tiền. Hữu hệ đệ niên bồi sách, sách lập đê lộ, tịnh thuế phần đẳng dịch, kì phụng sai Tổng cán quan đẳng nha môn nghi phụng chuẩn trừ đình, Kỳ câu nhiễu vi giả, hữu tội. Tư lệnh dụ. Vĩnh Tộ nguyên niên cửu nguyệt thập bát nhật lệnh chỉ. Ư Quý Hợi niên cung phụng Đại Nguyên súy Tổng quốc chính Thanh Đô vương lệnh chỉ. Từ Liêm huyện, Cơ Xá châu quan viên, tướng thần, xã thôn trưởng Nguyễn Ngọc Diên, Nguyễn Ngọc Quang, Ngô Đức Nhân, Nguyễn Ngọc Thụy, Nguyễn Hữu Lâm, Lê Đăng Cao, Hoàng Trọng Thành, tính Nguyễn Văn Khoa, Đỗ Duy Cẩn, Đinh Kim Thành, Nguyễn Thừa Lũng toàn châu thượng hạ hệ sở khải vị. Nguyên bản châu ngạch Trang 10 (trang chụp 2) tại nội điện dĩ phụng lập đô, chuẩn hứa dân cư trung giang, vô hữu hằng sản điền hòa, dĩ lũy ngự chuẩn trừ. Bản châu hệ đệ niên bồi sách, sách lập đê lộ, tính thuế phân, cập tân độ, sưu sai các dịch. Ư Kỷ Mùi niên dĩ phụng lệnh chuẩn nhiêu đẳng. Nhân dĩ kinh tra thực, ưng nhưng chuẩn phụng lệnh như nguyên tiền. Kỳ hữu phụng sai cai trưng tổng cán quan, tính huyện quan đẳng nha môn bất đắc trưng thu. Câu ưu vi giả, hữu tội. Tư lệnh. Vĩnh Tộ ngũ niên thập nhị nguyệt sơ thất nhật lệnh chỉ. Ư Ất Sửu niên, cung phụng Đại nguyên súy Tổng quốc chính Thanh Đô vương lệnh chỉ. Từ Liêm huyện, An Xá châu quan viên, tướng thần xã thôn trưởng Nguyễn Ngọc Diên, Lê Đăng Cao, Đào Quang Phụ, Nguyễn Thế Sơn, Nguyễn Thế Vinh, Nguyễn Lâm Nha, Nguyễn Ngọc Thụy, Hoàng Trọng Thành, Nguyễn Thọ Quang, Nguyễn Văn Khoa toàn châu thượng hạ hệ khải vị. Nguyên bản châu ngạch tại nội điện, cung phụng lập đô, ngự chuẩn dân cư trung giang, vô hữu hằng sản điền hòa, dĩ lũy phụng lệnh. Hệ đệ niên chuẩn nhiêu thuế phân tính đê lộ, cập tân độ đẳng dịch. Chí Quý Hợi niên tái phụng lệnh chuẩn như nguyên tiền hữu đẳng. Nhân dĩ kinh tra thực, ưng nhưng chuẩn phụng trừ như nguyên lệnh. Nội kỳ phụng sai cai trưng tính huyện quan đẳng nha môn tuyên phụng chuẩn trừ, bất đắc trưng thu. Câu nhiễu vi Xá giả hữu tội. Tư lệnh. Vĩnh Tộ thất niên bát nguyệt thập cửu nhật lệnh chỉ. Ư Đinh Mùi niên, cung phụng Khâm sai Tiết chế các xứ thủy bộ chư doanh chưởng quốc quyền bính, Tả tướng Thái úy Tây Quốc công gia chỉ. Từ Liêm huyện Cơ Xá châu Nguyễn Thị Phú, Nguyễn Thế Sơn, Nguyễn Thế Vinh, Nguyễn Văn Bảng, Ngô Văn Tổng tính Ngô Văn Bái, Nguyễn Tử Tư, Nguyễn Lập Trạch, Ngô Văn Thành, Đinh Như Cương, Nguyễn Văn Tựu toàn châu thượng hạ đẳng hệ khải vị. Nguyên bản châu ngạch tại nội điện, dân cư trung giang vô hữu hằng sản. Đệ niên vô hữu thuế ngạch, thường bị hồng thủy phá hội, dân cư trì hiệp. Ư Quý Hợi niên dĩ phụng lệnh chuẩn nhiêu thuế phần, tính đê lộ, cập tân độ, sưu sai đẳng dịch. Chí Ất Sửu niên tái phụng lệnh chuẩn như nguyên đẳng. Nhân dĩ kinh tra thực ưng nhưng chuẩn phụng như chỉ nội. Kì phụng sai cai trưng, tính huyện quan bất trưng đắc thu. Câu nhiễu vi giả hữu tội. Tư gia chỉ. Phúc Thái ngũ niên lục nguyệt nhị thập nhật gia chỉ. Ư Giáp Ngọ niên tái cung phụng Đại nguyên soái Tổng quốc chính Thái Thượng sư Phụ công cao nhân thánh Thanh Vương lệnh dụ. Từ Liêm huyện Cơ Xá châu quan viên tính tướng thần xã thôn trưởng Hoàng Trọng Thành, Đinh Kim Thành, Lê Đăng Cường, Đỗ Duy Năng, Đinh Kim Dự, Nguyễn Bá Tường, Hoàng Trọng Vinh, Ngô Văn Khâm, Nguyễn Thế Tế, Nguyễn Thừa Thành, Ngô Đăng Long, Nguyễn Nhật Khang, cự tiểu đẳng hệ sở khải gian vị. Nguyên bản châu ngạch tại nội điện, chuẩn cư trung giang, dân vô sản nghiệp. Ư Kỷ Mùi niên dĩ phụng lệnh chỉ, hệ đệ niên bồi bồi sách, sách lập đê lộ, tính thuế phận, cập tân độ sưu sai các dịch tính chuẩn trừ. Chí tư phụng kiến Trang 11 (trang chụp 3) phụng sai phụng quan đẳng nha môn câu thôi. Bản châu sách lập đê lộ cung khất chuẩn nhiêu lệ. Nhân dĩ kinh tra thực, ưng nhưng chuẩn nhiêu như tiền. Hữu hệ đệ niên sách lập bồi sách đê lộ, kì phụng sai tổng cán quan đẳng nha môn nghi phụng chuẩn trừ đình, kì câu nhiễu vi giả hữu tội. Tư lệnh dụ. Thịnh Đức nhị niên tam nguyệt nhị thập nhị nhật. Sơ lập An Xá tự châu thổ san chung tự. Cẩn án Vương chính chi bản, nhất khuê điền dĩ hậu quân tử, tam bảo thổ dĩ cúng Phật thị. Khuy kiến An Xá tự danh lam cổ tích, thực ấp Thăng Long ngạch tại nội điện chuẩn cư trung giang thị Cơ Xá châu. Khâm phụng Lý triều Thái tổ lập đô, dĩ lai ngự chỉ, chuẩn tại trung giang dân vô cốc điền dĩ tằm tang vi nghiệp. Tái đệ tiến quan biểu hệ đệ niên tịnh vô tang căn cốc ngạch, tịnh bồi sách tại đê lộ, cập binh phận hộ phận. Tự Sắc chỉ hệ Tu tri kí chú đông tây nam bắc y như điền bạ, tính vô thuế lệ dĩ vi vạn thế. Bản châu chi cơ nghiệp thị tổ địa Trung thư giám Trung thư Xá nhân Đình úy sứ Quản Châu hầu, phong tứ quốc tính Lý Thường Kiệt thụy Quảng Châu phủ quân. Đệ niên phúc điền dĩ vi tổ địa lập dã. Tích ngã Đại Việt việt tự Lý triều lập đô lịch chí Lê triều Thái tổ ngự chỉ. Chuẩn trừ bản châu các dịch như nguyên tiền lệ. Hồng Đức thập bát niên nhị nguyệt thập tứ nhật, Triều liệt đại phu Hộ khoa Đô cấp sự trung Nguyễn Thanh Lương, Hiển cung đại phu Hộ khoa Đô cấp sự trung Nguyễn Úc vi sao tuyển nhất bản. Ty Lễ giám Tổng Thái giám tri giám sự Phúc Dương bá Nguyễn Xuân Lan truyền xuất nhất bản tổng Sơn Tây đạo thuộc nội Từ Liêm huyện Cơ Xá châu đông cận Lỗi Cầu, Lâm Hạ đẳng xã, tây cận Quảng Bố, Yên Hoa đẳng phường, nam cận Ông Mạc quyết thủy, bắc cận Xuân Canh, Bắc Cầu đẳng xã thôn. Thượng tự Quai Hàn giáp Tam bảo châu, hạ chí Ông Mạc quyết thủy, dân cư trung giang vô cốc điền dĩ tàm tang vi nghiệp. Nguyên bản châu châu thổ dĩ vi cúng Phật. Hứa cấp thượng tự quan viên hạ cập dân thứ, thê tử, mỗi nhân thổ trạch tư cao khẩu phần bát cao, chí phế tật cô quả đẳng hạng mỗi nhân nhị cao dư. Chuẩn cấp vi Tam bảo thổ dĩ cũng Phật, tính vô thuế ngạch. Kì bản châu châu thổ tính đê lộ, tân độ thuế phận đẳng dịch tính nhiêu trừ bị. Thân bản xứ Sơn Tây Tán trị thừa tuyên sứ ty Thừa tuyên sứ Trung trinh đại phu Quốc Mỹ bá Thiếu doãn Quách Đình Bảo, Sơn Tây đạo Thanh hình Hiến sát sứ ty Hiến sát sứ Dương Văn Đán đẳng phê phó bản huyện Tri huyện Phạm Như Trung, Lại Kim Bảng đẳng quan công đồng tra khám. Quả thị Cơ Xá châu tính vô tang căn thuế ngạch tu tả điền tuân thụ nạp nha môn. Nam quân Đô đốc phủ chưởng sự kiêm Tông nhân lệnh Thái bảo Bình Lạc bá Trịnh Duy Hiếu bị tướng tiền trấn châu thổ tính tân độ, cập Tam bảo thổ điền mẫu cao xích thốn, trục số trần tấu phục khất xuất tự hiền du hạ. Cố cự nghị hành phụng sắc chỉ. Khâm thử. Trịnh Duy Hiếu đẳng phụng nghị Từ Liêm huyện Cơ Xá châu, nguyên châu thổ các khu kì đẳng nha môn tính chuẩn nhiêu thuế ngạch tính tính đê lộ tân độ, cập sưu sai các dịch như nguyên tiền lệ. Quảng Hòa ngũ niên nhị nguyệt thập ngũ nhật Tiến công lang Từ Liêm huyện Tri huyện Vũ Chiêu đẳng. Ư bản niên nhị nguyệt Chung Trang 12 (trang chụp 4) Sơ ngũ nhật thừa bản phủ mạc gia tốn xuất nhất bản. Bản niên tam nguyệt thập tam nhật, Đặc tiến Kim tử vinh lộc đại phu, Sơn Tây đạo Tán trị thừa tuyên sứ ty Thừa tuyên sứ thần Nguyễn Cư Nhân cẩn tấu, vị khám châu dân tang thổ tân độ tính vô thuế lệ sự. Quảng Hòa tứ niên thập nhất nhật sơ tam nhật, thừa Hộ bộ phó khám nhất bản. Kì bản châu nguyên tiền triều Hồng Đức niên gian lãi phụng sắc chỉ. Bản châu tính vô tang căn tân độ thuế ngạch, tính sưu sai các dịch, tính chuẩn nhiêu trừ. Quảng Hòa nhị niên bản huyện Tri huyện Vũ Chiêu đẳng tra đắc bản châu Tu tri tự tiền triều. Lịch Đại Chính cửu niên, dĩ tiền Cơ Xá châu nguyên ngạch lập điện, chuẩn hứa hữu châu thổ dĩ lai, tính vô tang căn tân độ thuế ngạch, tính binh phần hộ phần, cập sưu sai các dịch tính chuẩn trừ, phụng thử. Nguyễn Cư Nhân đẳng tham hứa Cơ Xá châu hệ tại trung giang vô cốc điền, nguyên thổ ngạch dĩ phụng lập đô ư Đại Chính thập niên dĩ tiền, thị dĩ minh bạch. Vi thử bị tương sở khám, đắc thực sự do trần tấu hợp vô Cơ Xá các khu châu thổ, cai bộ tra chiếu thi hành. Kim Nguyễn Cư Nhân cụ bản chuyên sai Thông lại Vũ Bá Tuế cẩn lại phó quyết, Nguyễn Cư Nhân đẳng cẩn cụ tấu. Văn phục hầu sắc chỉ. Bản nguyệt thập tứ nhật vãn triều Đoan Minh môn Ty Lễ giám Hữu Đề điểm Nguyễn Công Thanh phụng sắc chỉ, thị khâm thử. Trừ phi sở cai sự mục ngoại lí hợp, bị sao tổng Cơ Xá châu xã trưởng chiếu y khâm phụng. Sơn sự lý hợp khâm tuân phụng hành nhật lũy triều dĩ lai, y như tiền lệ, tính vô thuế ngạch, binh phận, hộ phận đê lộ tân độ sưu sai các dịch chuẩn trừ. Nguyên thổ lập đô tái dĩ cúng Phật dĩ thị triều đình khoan tuất chi tâm, dĩ sùng Phật đạo, chúc Thánh thọ chi mạch, ích truyền ư vĩnh cửu hĩ. Quảng Hòa ngũ niên tứ nguyệt thập ngũ nhật Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu Hộ bộ Thượng thư Văn Trường bá Phạm Chính Nghị, Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu Hộ bộ Tả Thị lang Phạm Quang Tá. Đô nguyên soái Tổng quốc chính Thượng phụ Bình An vương thuộc Quỹ Mão niên phụng kiến bẩm sai triều thần văn quan Hải Dương đạo Giám sát Ngự sử Nguyễn Chính, Đinh Mùi niên Thiếu bảo Đăng Quận công, Ất Mão niên Nội giám Thuế Long hầu Phạm Long Bằng, Mậu Ngọ niên cai trưng quan Phái Quận công, cập phụng sai Nội giám Quảng Lương hầu. Kỷ Mùi niên nội giám Dương Nghĩa hầu đẳng thỉnh tôn quý nha môn hồi bản châu tra khám, tiền thuế đắc chuẩn kí cụ, nhưng Cơ Xá châu châu thổ thuế phận đê lộ, tân độ sưu sai các dịch. Chí Quý Hợi, Ất Sửu, Đinh Mùi đẳng niên gian, tái cung phụng lệnh chỉ, lệnh dụ chuẩn nhiêu phận, đê lộ, tân độ, sưu sai các dịch như nguyên tiền hữu dĩ vi cúng Phật. Chí Quý Hợi niên phụng kiến phụng sai quan Đô đốc Gia Quận công bản châu tra khám hoa ngạch, quả dĩ tường minh, tính nhưng bản châu như nguyên tiền lệ. Tái cung phụng gia chỉ chuẩn trừ thuế phận, đê lộ các dịch, tính nhiêu dĩ cúng Phật vi thủ lệ. Thực hội thừa ty nha môn, đệ tiến quan biểu cung quá Đại nguyên súy Tổng quốc chính Thanh Đô vương, thứ tế anh hùng. Hựu năng hiếu thử thiện duyên, quảng thi công đức. Phi duy thiện nguyên ư gia, ức diệc khánh lưu ư quốc, ban nghiệp quan tiền nhị thập quan, cúng dưỡng tái cung phụng. Đức Long tam niên thập nguyệt sơ cửu nhật. Chính Hòa thập nhất niên, tuế thứ Canh Ngọ đông tiết trọng nguyệt cốc đán. Trang 13 (trang chụp 5) Chân truyền gia pháp, Diễn giáo Tế sinh chính phái đạo sư, kiêm Tư văn trưởng Xã chính Túc Đường nam Ngô Đăng Tiến soạn đẳng. (khắc trong lòng chuông): Đại nguyên súy Tổng quốc chính Thượng phụ Bình An vương lệnh chỉ. Từ Liêm huyện, Cơ Xá châu quan viên, tướng thần, xã thôn trưởng Nguyễn Ngọc Trân, Nguyễn Ngọc Quang, Nguyễn Ngọc Diên, Ngô Đức Thực, Ngô Đức Khoáng, Đào Đăng Đệ, Lê Đăng Cao, Đào Quang Phụ, Nguyễn Lâm Vệ, Nguyễn Gia Quang toàn châu thượng hạ đẳng sở khải. Nguyên bản châu ngạch tại nội điện, dĩ cung phụng lập đô, chuẩn cư trung giang, vô hữu hằng sản cốc điền. Kỳ địa phận thượng tự Quai Luân giáp Tam bảo châu, hạ chí Ông Mặc quyết thủy, Đồng Nhân châu xã, đông cận Lỗi Cầu. Lâm Hạ, Gia Thị, Ái Mộ đẳng xã; nam cận Ông Mặc quyết thủy, đông cận Xuân Canh, Ngạn Bắc, Cầu Gia Thượng, Gia Quất đẳng xã. Dĩ lũy phụng ngự chuẩn hứa bản châu. Hệ đệ niên bồi sách, sách lập đê lộ, tính thuế phận, tân độ, hoành độ, trực độ dữ sưu sai các dịch, hứa chuẩn nhiêu trừ đẳng. Nhân dĩ kinh tra thực, ưng nhưng chuẩn trừ nhiêu như nguyên tiền. Hữu hệ đệ niên bồi sách, sách lập đê lộ, tịnh thuế phận, cập tân độ, hoành độ, trực độ đẳng dịch, kì phụng sai triều quan, tính cai trưng đẳng nha môn nghi phụng tuân chuẩn trừ đình, vô trưng thu, câu nhiễu vi giả, hữu tội. Tư lệnh. Vĩnh Tộ nguyên niên nhị nguyệt sơ ngũ nhật lệnh chỉ. Đại nguyên súy Tổng quốc chính Thượng phụ Bình An vương lệnh chỉ. Từ Liêm huyện, Cơ Xá châu quan viên, tướng thần, sắc mục xã thôn trưởng Nguyễn Ngọc Diên, Nguyễn Ngọc Quang, Ngô Đức Nhân, Ngô Ngọc Thụy, Nguyễn Hữu Lộc, Lê Đăng Cao, Hoàng Trọng Thành, Nguyễn Văn Khoa, Đỗ Chân Hiến, Đinh Kim Thành, Nguyễn Thừa Long toàn châu đẳng hệ phụng sai cai trưng quan Thiếu bảo Đăng Quận công sở khải. Nguyên bản châu ngạch tại nội điện, cung phụng lập đô chuẩn cư trung giang tính vô thuế ngạch. Lệ hữu hoành độ tại Quảng Đức điện Bến Thạch xứ, chí Gia Lâm huyện Gia Liệt xã địa phận, thượng tự An Điện, Thiên Đức giang, hạ chí Huy Văn, Đồng xuân tráng sĩ, Đông biên tráng sĩ, nam biên Huy Văn, tây biên Ngự Liễn, bắc biên Thiên Đức giang. Kì trực độ, thượng tự Thụy Hương, Đông Ngạc, Pháp Cương, Lực Canh lưỡng biên giang đẳng thị, hạ chí Huy Văn, Hà Tân, Ông Mặc quyết thủy đẳng phường. Trang tải hành khách vãng lai, binh mã, sứ thần cập thê tử, mãi mại tang diệp. Hạ chí Đại Lan trung tiểu đẳng xã thị châu đẳng. Nhân dĩ kinh tra thực, ưng chuẩn trừ như nguyên lệ. Hữu phụng sự hương hỏa Thần từ Đại Càn quốc gia Nam hải Tứ Da Nương công chúa thọ quốc mạch. Hệ đệ niên tân độ, hoành độ, trực độ, kì phụng cai trưng quan nghi phụng chuẩn nhiêu trừ đình, kỳ trưng thu câu nhiễu vi giả, hữu tội. Tư lệnh. Vĩnh Tộ nhị niên lục nguyệt nhị thập lục nhật lệnh chỉ. (Khắc trên vành ngang giữa thân chuông): Do Canh Ngọ niên bản châu thượng hạ mỗi nhân cổ tiền nhị mạch mễ nhất thăng, chú đắc hồng chung nhi Ngô Đăng Tiến mạo xưng vi Am Sinh đường, nam tước khắc vu chung. Trí bản châu cáo tại phủ liêu, nghi ứng phạt Ngô Đăng Tiến cổ tiền tam thập quan, nạp trừng giả mạo. Hứa bản châu ma hủy khắc tự, dĩ miễn hậu hoặc, như sắc chỉ Trang 14 (trang chụp 6) các bức nhi bỉ giả tác kì bản châu vô thử bản, cập bỉ điều phong tổ cố vi tứ quốc tính, dĩ vi tổ địa thử sự mạo trá. Chí Tân Tỵ niên thập nhị nguyệt nhật, bản châu luận ma giả thử phạt khắc vu chung vĩnh kỳ truyền. (Trên 4 ô phía dưới thân chuông) Khâm sai các tiết chế các xứ Thủy bộ chư doanh Chưởng quốc quyền bính Tả tướng Thái úy An Quốc công, hàm dưỡng thọ quốc khuông phù năng tạo đắc quốc thậm chính công đức vô lượng. Tín thí tiền thập ngũ quan cúng dàng. Bản tự tụng kinh sám hối dĩ vi công đức phục dã, tí dĩ thân cung khang thái, quốc tộ miên miên dĩ vi y nhân chi cổ, vĩnh cửu kì lưu truyền hồ. Tư Cơ Xá châu đắc tân độ sưu sai các dịch tính chuẩn nhiêu vi Tam bảo thổ đắc tiện linh tu, dĩ vi phần hương chúc Thánh, thọ quốc mạch. Kì bản châu quan viên xã thôn hương trưởng thượng hạ cự tiểu đẳng nhĩ văn bất như mục kiến, tạo chú bất như phương đan. Nãi lặc kim chung vĩnh truyền lai thế, kì nhân duyên công đức, bất khả lượng dã. Phúc Thái ngũ niên ngũ nguyệt nhị thập nhật. An Xá tự tường chú hồng chung kí. Đại Việt quốc Sơn Tây đạo Quốc Oai phủ Từ Liêm huyện Cơ Xá châu quan viên Trùm trưởng Ngô Đăng Long, Nguyễn Hữu Nghĩa, Nguyễn Ngọc Bài, thần Nguyễn Ngọc Đường, Xã chính Ngô Đăng Tiến, Xã sử Nguyễn Danh Chấn, Xã tư Hồ Như Chức, Hương trưởng Nguyễn Quang Huy, Đặng Văn Quan, Nguyễn Văn Tính, Lê Bá Ngũ, Nguyễn Như Diện, Ngô Văn Giáo, thần Ngô Văn Diễm, Nguyễn Thọ Diếu, Nguyễn Phú Diễn, Đinh Như Nhiễu, Đinh Đắc, Nguyễn Văn Nghĩa, Nguyễn Đình Phó, Đỗ Duy Trí, Đinh Đắc Bùi, Nguyễn Hữu Duy, Nguyễn Văn Giáp, Nguyễn Văn hợp, Nguyễn Đình Lộc, Đỗ Văn Hậu, Nguyễn Danh Nho, thần Nguyễn Sĩ, Lê Phú Miên, trưởng lão Nguyễn Phú Thử, Đinh Kim Sinh, Thủ dịch Lê Văn Chính, Trưởng phiên Đào Quang Đê, Nguyễn Văn Năng, Lê Phú Thế, thôn trưởng Ngô Văn Hàm, Đào Quang Ngạc, Nguyễn Văn Lương, Nguyễn như Vĩnh, thần Phạm Sĩ tiền, Lê Kim Chi, Đinh Kim Hiên, Hà Văn Luân, Ngô Đăng Sĩ, tính Nguyễn Sĩ Khiếp, Nguyễn Văn Dao, Nguyễn Hữu Lộc, Phạm Sĩ Chẩm, Nguyễn Văn Triệt, Đỗ Duy Chủ, Nguyễn Ngọc Duy. Thượng Phụ giáp: Ngô Văn Sơn, Nguyễn Thọ Vinh, Nguyễn Sĩ Lai, Nguyễn Thế Hợp, Lê Văn Thạch, Nguyễn Vĩnh Thọ, Nguyễn Văn Mẫn, Nguyễn Văn Tịch, Nguyễn Thừa Nhàn, tính Hồ Quang Tín, Ngô Văn Hội. Đào Quang Tuyển, Nguyễn Thừa Lâm, Nguyễn Đình Khoa, Ngô Văn Đốc, Thân Công Du. Lão Đông giáp: Nguyễn Thọ Tôn, Vũ Văn Kinh, Nguyễn Văn Số, Đào Quang Vệ, Nguyễn Ngọc Chức, Nguyễn Đình Đường, Nguyễn Vĩnh Thai. Nguyễn Văn Lượng, Lê Kim Sơ, Nguyễn Đình Quán, Nguyễn Sĩ Am. Lão Tây giáp: Nguyễn Văn Chất, Nguyễn Văn Ẩn, Nguyễn Thế Ích, Lê Phú Xử, Lê Doãn Thái, Nguyễn Đình Tính, Nguyễn Như Khải, Nguyễn Văn Tá, Hồ Như Nại, Nguyễn Thừa Lương, Nguyễn Phú Cẩm, Hoàng Ngọc Thứ, Đặng Văn Kỳ, cập toàn châu phụ lão xã hương sắc thôn trưởng thượng hạ cự tiểu đẳng nguyên hữu cổ tích danh lam An Xá tự, vị hữu hồng chung. Tư bản châu thượng hạ đẳng chế tác hưng công, phát tài tạo chú hồng chú, tạc san lặc lệnh lục tại vu chung, vĩnh truyền hậu thế. Trang 15 (trang chụp 7) Cái văn, phù chung thanh phát ư tự nhiên, phi đại Thánh, thùy kỳ chế tác. Việt Thần hóa Hiên Hoàng nhất chú nhi trị, kim ô đạo hà xương, Vương gia đỉnh thịnh, hân triều tập pháp gia phất sĩ thế bản thu gia hội chân nguyên. Ái du lạc điềm đạm chi trường, thượng điện khánh thành, phi điểu thung dung, tấu tiêu thiều chi khúc. Tiền đường sâm thú vũ phượng nghi, hưu trưng doãn hiệp, cơ trù thuần tục tư đào, sĩ hành ngưỡng Cù Đàm di giáo. Văn công huy ánh, càn khôn hưng, đồng tử du ca, đàn vũ thung dung, khí tượng thuần thục. Kì cảnh thanh tịnh, kỳ hương cổ nhi du hàm nhi hỉ, xứ xứ vực tê nhân thọ, túy dĩ tửu bão dĩ đức, nhân nhân phúc hưởng thái bình, mỹ tai. Quốc Oai phủ Từ Liêm huyện Cơ Xá châu Linh Nhiên An Xá tự. Kỳ thổ ngạch, nguyên tại long điện, nhiên khí vận, tái dựng ngọc châu. Tả Thanh long khoa giáo khôi phiêu, hữu Bạch hổ trai đàn tướng soái, tiền Chu tước Nhị giang nhọc nghê, tài tuyền lai sa số hằng hà, hậu Huyễn vũ lĩnh lĩnh kim ô. Phúc chỉ đẳng thiên địa cửu vĩnh vĩnh, thọ bồi quốc mạch, chiêu chiêu các bá sơn tây thị cảnh dã. Phượng nguyệt vô biên hoa hạnh khả ái, ỷ ỷ trúc phỉ nhiên quân tử, nghi nhĩ thất gia thiên hồ phách bách phục linh tú du bội văn kinh hoàn, bảng nhãn quế hương nhụy nguyệt cung y nhiên vân thủy tam gia uyển nhĩ. Kì giả sơn thiên giả thủy chúng sinh đào hòa khí xuân nghĩa vi cơ đức vi thanh cửu thiên chiếu quỳnh lâu bích ngôi nguy sùng đĩnh hoa trung lương đống. Thế thượng sĩ dân tâm sở nguyện ý sở cầu, ngưỡng thiên tôn nhi phó cảm đắc chi chi dân chi pháp, phùng Phật lực dĩ gia trì công nghiệp sở chiêu phúc lợi. Bản xã thượng hạ gia đạo hưng long, lương tâm ái mộ. Nãi xuất tư tài, bảo khí, hỉ thi cầu âm đức thập phân. Nhân lệnh sảo tư kim công viên mãn, chú hồng chung nhất quả, thập phân hoàn hảo, thiên tải tương khanh. Chung lư do thị bất di chung lộc tòng. Tư đa thực như tân sao chi bồi phụ, vãn cựu tích chi tổ tông, lan ty tuế diễn, phong tiên tàm tang. Niên thiêm mậu thịnh, kỳ tước, kỳ đức, kỳ xỉ, thế tôn đạt hiền truyền tam tôn: viết thọ, viết phú, viết khang. Cảnh phúc hưởng Thượng thư, ngũ phúc như sơn phụ, bành niên hạo tuế, hưng hoa yên bùi quán, trương kiều gia gia khuê tổ, trâm anh miên diên, chi chi cán thế, thế quan thân, y bát hách dịch, vân nhưng đức thử công, thị lộc thị phúc. Tuy thuyên thạch cổ chi thi, lặc ngộ khê chi bi, bất túc dĩ hình dung kỳ vạn nhất. Hồng chung chiêu minh, lặc kim quyết, vĩnh lưu truyền. Thời, bản châu các sãi vãi, tính bản tự công đức, cập phổ khuyến cộng sử tiền thập nhị quan nhị thập văn. Lê Đăng Cường tự Phúc Thọ, Lê Kim Bảng tự Phúc Quảng sử tiền nhất quan. Nguyễn Quang Vinh tự Phúc Hoa sử tiền nhất quan, Nguyễn Văn Bì tự Phúc Hiền sử tiền nhất quan, Lê Đăng Bình tự Phúc Lan sử tiền nhất quan. Đinh Đắc Điện tự Phúc Sơn, Nguyễn Văn Minh tự Phúc Phúc Huệ sử tiền nhất quan, Đào Quang Sao tự Phúc Nguyên, Nguyễn Ngọc Lũng tự Phúc Thành, Nguyễn Sĩ Thiêm tự Thanh Phúc thê Nguyễn Thị Viết sử tiền nhất quan, Lê Văn Kì tự Phúc Thông, Nguyễn Văn Thuận tự Phúc Đường, Ngô Văn Hiển tự Phúc Tăng, Nguyễn Văn Cựu tự Phúc Độ, Đinh Kim Thạch tự Phúc Hưng, Nguyễn Hữu Vinh tự Phúc Hiển, Lê Văn Mẫn tự Phúc An. Nhất bản châu các nhân công đức cộng sử tiền. Vương phủ Thị nội cung tần Nguyễn Thị Bình sử tiền ngũ quan kí dữ Hiển khảo tiền Vĩnh Nham tự Phúc Mỹ phủ quân. Nguyễn Văn Thai, thê Ngô Thị Tú, mẫu Nguyễn Thị Phiếm sử tiền ngũ quan, Nguyễn Thị Điếm cổ tiền nhất quan, Nguyễn Văn Cấp thiếp Ngô Thị hà cổ tiền nhất Trang 16 (trang chụp 8) quan, kí dữ Hiển khảo Nguyễn Văn tài tự Phúc Hòa. Ngô Thị Kiến đồng ngũ dật kí dữ lương phu Nguyễn Như Thành tự Phúc Lân đạo hiệu Huyền Tức. Ngô Văn Diệm thê Đặng Thị Cánh đồng tam dật, Lê Văn Chính thê Phan Thị Hợp sử tiền nhất quan kí dữ hiển khảo Lê công tự Phúc Lãnh, tỉ hiệu Từ Lương. Nguyễn Hữu Tước, thê Nguyễn Thị Chế kí dữ hiển khảo tự Phúc An, Ngô Đăng Long tự Huyền Quảng đạo hiệu Đức Nhuận, thê Hồ Thị Điển, thiếp Nguyễn Thị Tôn sử tiền nhị quan kí dữ hiển khảo tiền Tế Sinh đường Nguyễn Tập hóa cụ sư kiêm tri Trùm trưởng Tư Văn giáp. Ngô Văn Tổng tự Phúc Kiêm, đạo hiệu Huyền tiên sinh, tính tỉ Nguyễn Hồng hiệu Từ Thái nhụ nhân. Nguyễn Hữu Nghĩa tự Đạo Trạch, thiếp Ngô Thị Thuyền sử tiền nhất quan kí dữ hiển khảo Nguyễn quý công tự Phúc Tâm, tỉ Nguyễn Thị hiệu Từ Mẫn. Ngô Đăng Tiến tự Huyền Huệ, đạo hiệu Đức Trạch tính thê Nguyễn Thị Hữu sử tiền nhất quan kí dữ hiển tổ khảo Tiền quan viên tử kiêm Tế Sinh đường viện Tri Tư văn trưởng Ngô Đức Nhân tự Phúc Trai, đạo hiệu Huyền Thông tiên sinh, tính tỉ Lê thị Ty hiệu Từ Tại nhụ nhân, tằng tổ khảo tiền Đặc tiến đô sứ tỉ Nguyễn thị. Triều Tuấn bá Nguyễn Ngọc Bài, thê Nguyễn Thị Nãi, Phạm Thị Phát đẳng kí dữ Hiển khảo Tiền Triều Cáo hầu Nguyễn, tỉ Nguyễn quý thị hiệu Từ Tại nhụ nhân, tổ khảo Tiền Tả Tượng cơ Cai cơ quan tặng Tử Đô đốc Thái bảo Văn phủ quân, tính tỉ Nguyễn thị Hình hiệu Từ Minh nhụ nhân. Tiền Nhân Trung hầu tặng Quảng Quận công Nguyễn quý công tự Nhất Vô, quán ốc Biện Thượng xã Trịnh Lương, thê Trịnh Thị Lãm, chúng tử Trịnh Cơ, tính Trịnh Thị Phúc, Trịnh Thị Lộc sử tiền ngũ quan kí dữ Hiển tỉ Đinh Thị hiệu Diệu Minh, Trần thị hiệu Từ Ân. Nhất thê hương hưng công tính thiện sãi vãi Lê thị Cô hiệu Diệu Duyên kí dữ Hiển khảo tự Phúc Trực. Bản châu binh phiên tuần hữu công cấu tác trai gia, tính bình viên cập tứ vi trúc nam, chú chung dữ nhật dạ thủ bả chí viên mãn, phúc đẳng hà sa, tử tôn hưng thịnh. Nhất phổ thập phương thí các hương lân chư tôn quý, tính sãi vãi thiện nam tín nữ, dữ bách tính đẳng tòng tư công đức, tập phúc lương duyên, khánh lưu miêu duệ. Lê Phú Phiếm thê Nguyễn Thị Tá sử tiền nhất quan. Hà Văn Duyên, thê Nguyễn Thị Ẩn sử tiền nhất quan. Ngô Đăng Đệ, thê Nguyễn Thị Khuông, thiếp Nguyễn Thị Đĩnh sử tiền nhất quan. Nguyễn Như Khải, thê Hồ Thị Tịnh sử tiền nhất quan. Dịch nghĩa: Chuông chùa An Xá An Lệnh chỉ của Đại Nguyên súy Tổng quốc chính Thượng phụ Bình An vương. Quan viên, tướng thần, xã thôn trưởng châu Cơ Xá huyện Từ Liêm gồm Nguyễn Ngọc Trân, Nguyễn Ngọc Diên, Nguyễn Ngọc Quang, Ngô Đức Khoan, Ngô Đức Khoáng, Đào Đăng Đệ, Lê Đăng Cao, Đào Quang Phụ, Nguyễn Lâm Vệ, Nguyễn Gia Quang, Ngô Văn Hậu cùng toàn châu trên dưới tâu bày một việc sau. Nguyên là dân bản châu (làng trên đất bãi) xưa sống ở nội thành, đã vâng lệnh xây dựng kinh đô mà chuẩn cho chuyển cư sống ở bên sông, không có của cải, ruộng đất cấy cày. Bản châu từng được phê chuẩn miễn trừ mọi khoản thuế khoá, thuế đò, cùng các sưu sai đóng góp việc đắp đê, làm đường. Nay được nha môn quan Tổng cán vâng lệnh chuẩn cho được miễn trừ. Nếu ai làm trái sẽ bị trị tội. Nay ban lệnh dụ. Trang 17 (trang chụp 9) [Bên lề trái có các số viết tay bằng mực đỏ 1, 2, 3, 4 đánh dấu lần lượt bốn lệnh chỉ/gia chỉ trên trang này.] Lệnh chỉ ngày 18 tháng 9 năm Vĩnh Tộ nguyên niên (1619). [1] Năm Quý Hợi, cung phụng lệnh chỉ của Đại nguyên súy Tổng quốc chính Thanh đô vương. Quan viên, tướng thần, xã thôn trưởng châu Cơ Xá, huyện Từ Liêm gồm Nguyễn Ngọc Diên, Nguyễn Ngọc Quang, Ngô Đức Nhân, Nguyễn Ngọc Thụy, Nguyễn Hữu Lâm, Lê Đăng Cao, Hoàng Trọng Thành và Nguyễn Văn Khoa, Đỗ Duy Cẩn, Đinh Kim Thành, Nguyễn Thừa Lũng cùng toàn châu trên dưới tâu trình rằng. Nguyên là dân bản châu xưa sống ở nội thành, đã vâng lệnh xây dựng kinh đô mà chuẩn cho chuyển cư sống ở trong sông, không có của cải, ruộng đất. Từng được vua ban chỉ miễn trừ sưu thuế. Bản châu hàng năm khi có việc đắp đê, đắp đường và sưu thuế, thuế bến đò đã được chuẩn ban miễn trừ vào năm Kỷ Mùi. Nhân được tra xét đúng như sự thực, nên chuẩn cho vâng lệnh chỉ như trước. Đến kỳ, nha môn quan trưng thu thuế, quan tổng cán không được trưng thu. Nếu ai làm trái sẽ bị trị tội. Nay ban lệnh dụ. Lệnh chỉ ngày mồng 7 tháng 12 năm Vĩnh Tộ thứ 5 (1623). [2] Năm Ất Sửu cung phụng lệnh chỉ của Đại nguyên suy Tổng quốc chính Thanh Đô vương. Quan viên tướng thần xã thôn trưởng châu Cơ Xá, huyện Từ Liêm gồm Nguyễn Ngọc Diên, Lê Đăng Cao, Đào Quang Phụ, Nguyễn Thế Sơn, Nguyễn Thế Vinh, Nguyễn Lâm Vệ, Nguyễn Ngọc Thụy, Hoàng Trọng Thành, Nguyễn Thọ Quang, Nguyễn Văn Khoa, cùng toàn châu trên dưới tâu trình rằng. Nguyên là dân bản ấp xưa sống ở nội thành, đã vâng lệnh xây dựng kinh đô mà chuẩn cho chuyển cư sống ở trong sông, không của cải, ruộng đất, từng được vua ban cấp suất nhiêu miễn trừ sưu thuế, cùng các khoản lao dịch đắp đường, đắp đê và thuế bến đò, bãi sông. Đến năm Quý Hợi lại được ban lệnh, chuẩn cho như trước đây. Nhân được tra xét đúng như sự thực, nên gia ban lệnh chỉ như trước. Đến kỳ, cai quan trưng thu thuế, quan tổng cán, nha môn quan huyện không được trưng thu. Nếu ai làm trái sẽ bị trị tội. Nay ban lệnh dụ. Xá Lệnh chỉ ngày 19 tháng 8 năm Vĩnh Tộ thứ 7 (1625). [3] Năm Đinh Mùi cung phụng gia chỉ của Khâm sai tiết chế các xứ thủy bộ chư doanh, chưởng quốc quyền bính, Tả tướng Thái úy Tây Quốc công. Châu Cơ Xá, huyện Từ Liêm gồm Nguyễn Thị Phú, Nguyễn Thế Sơn, Nguyễn Thế Vinh, Nguyễn Văn Bảng, Ngô Văn Tổng và Ngô Văn Bái, Nguyễn Tử Tư, Nguyễn Lập Trạch, Ngô Văn Thành, Đinh Như Cương, Nguyễn Văn Tựu cùng toàn châu trên dưới tâu trình rằng. Nguyên là ngạch dân bản ấp xưa sống ở nội thành, chuyển sống ở trong sông, không có của cải, ruộng đất. Hàng năm không có ngạch thuế, thường bị nước lũ phá hủy, dân cư như bị kẹp trong sông nước. Vào năm Quý Hợi đã vâng lệnh chỉ chuẩn cho suất nhiêu được miễn thuế và đê lộ, bến đò, sai dịch các khoản. Đến năm Ất Hợi, tái ban lệnh chỉ chuẩn như trước. Nay nhân đã tra cứu đúng sự thực, nên chuẩn cho như trong lệnh dụ. Các quan thu thuế và quan huyện không được thu thuế. Nếu ai làm trái sẽ bị trị tội. Nay gia ban chỉ dụ. [4] Gia chỉ ngày 20 tháng 6 năm Phúc Thái thứ 5 (1647). Trang 18 (trang chụp 10) Năm Giáp Ngọ, lại cung phụng Lệnh dụ của Đại nguyên súy Tổng quốc chính, Thái Thượng sư Phụ công Cao Nhân Thánh Thanh vương. Quan viên, tướng thần, xã thôn trưởng châu Cơ Xá, huyện Từ Liêm gồm Hoàng Trọng Thành, Đinh Kim Thành, Lê Đăng Cường, Đỗ Duy Năng, Đinh Kim Dự, Nguyễn Bá Tường, Hoàng Trọng Vinh, Ngô Văn Khâm, Nguyễn Thế Tế, Nguyễn Thừa Thành, Ngô Đăng Long, Nguyễn Nhật Khang cùng toàn châu trên dưới tâu trình rằng. Nguyên là ngạch dân bản châu xưa sống ở nội thành, lệnh chuyển sống ở trong sông, không có của cải. Vào năm Kỷ Tỵ đã nhận ban lệnh chỉ, hàng năm, các tạp dịch, đắp đê, đắp đường, sưu thuế, thuế bến đò chuẩn cho miễn trừ. Đến nay, thấy quan sai nha môn đôn đốc việc đắp đê, nên xin chuẩn cấp suất nhiêu để miễn trừ. Việc được tra xét đúng như sự thực, nên chuẩn cấp suất nhiêu như trước. Về sau hễ hàng năm có việc đắp đê, đắp đường, thì lệnh cho quan tổng, nha môn chuẩn theo lệnh chỉ miễn trừ. Nếu ai làm trái sẽ bị trị tội. Nay gia ban chỉ dụ. Ngày 22 tháng 3 năm Thịnh Đức thứ 2 (1654) ban lệnh dụ. Trước đây san khắc minh chuông chùa An Xá, có lời tựa rằng: Kính xét: Gốc của nền vương chính là có khuê điền để nuôi dưỡng quân tử, đất Tam bảo cúng dâng cửa Phật. Trộm nghĩ, chùa An Xá là danh lam cổ tích. Dân ấp vốn là hạng ngạch đất Thăng Long, sống trong nội điện, nay chuẩn cho dời đến sống ở trong sông thuộc bãi Cơ Xá. Vâng theo chỉ dụ của Thái Tổ triều Lý để lấy chỗ dựng đô, chuẩn cho sống ở trong sông, không có ruộng cấy cày mà chỉ sống dựa vào nghề trồng dâu nuôi tằm. Lại trình lên quan bản xứ hàng năm xem xét miễn trừ thuế dâu tằm, cùng các sưu sai đóng góp việc đắp đê, làm đường, việc quân, việc dân. Tự (chùa) Sắc chỉ cho viên Tu tri ghi chú rõ các phía đông, tây, nam, bắc y như trong sổ bạ, cùng điều lệ quy định không thu thuế để lưu truyền về sau. Cơ nghiệp của bản châu là đất tổ của quan Trung thư Xá nhân Trung thư giám Đình úy sứ, Quảng Châu hầu được ban quốc tính Lý Thường Kiệt, thụy Quảng Châu phủ quân. Lấy phúc điền lập làm đất tổ. Trước ngày, nước Đại Việt ta, từ khi triều Lý lập kinh đô, trải đến thời vua Lê Thái Tổ đều có sắc chỉ, chuẩn cho miễn trừ mọi khoản đóng góp theo như lệ từ trước. Ngày 14 tháng 2 năm Hồng Đức thứ 18 (1487), Triều liệt đại phu Hộ khoa Đô cấp sự trung Nguyễn Thanh Lương, Hiển cung đại phu Hộ khoa Đô cấp sự trung Nguyễn Úc sao soạn một bản. Ty lễ giám Tổng Thái giám tri Giám sự Phúc Dương bá Nguyễn Xuân Lan truyền cấp một bản, chuyển cho châu Cơ Xá huyện Từ Liêm, nội lệ vào đạo Sơn Tây: Phía đông giáp các xã Lỗi Cầu, Lâm Hạ; tây giáp các phường Quảng Bá, Yên Hoa; nam giáp lỗ nước Ông Mạc; bắc giáp các xã thôn Xuân Canh, Bắc Cầu. Trên từ Quai Hàn giáp châu Tam Thực, dưới đến lỗ nước Ông Mạc. Dân cư sống trong sông không có ruộng đất, nên lấy việc trồng dâu nuôi tằm làm nghề, lấy đất bồi bản châu cúng Phật. Cấp cho trên từ quan viên, dưới đến thứ dân, vợ con, mỗi người đất ở 4 sào, khẩu phần 8 sào. Còn những người ốm đau, cô quả thì mỗi người hơn 2 sào. Chuẩn cho làm đất Tam bảo để cúng Phật mà không phải nộp thuế. Xã trưởng bản châu là Nguyễn Thời Ý, Nguyễn Vĩnh Xương, Nguyễn Bá Vãng nguyên từ triều trước đến nay nhiều lần ban chiếu chuẩn, hứa cấp nhiêu miễn trừ sưu thuế bãi ruộng, bến đò, cùng lao dịch các khoản. Các quan Sơn Tây Tán trị Thừa tuyên sứ ty Thừa tuyên sứ, Trung Trinh đại phu Quốc Mỹ bá Thiếu doãn Quách Đình, Sơn Tây đạo Thanh hình Hiến sát sứ ty Hiến sát sứ Dương Văn Đán phê chuẩn trao cho quan Tri huyện bản huyện Phạm Như Trung và Trang 19 (trang chụp 11) quan Lại Kim Bảng cùng khám đạc. Quả là châu Cơ Xá không phải nộp thuế trồng dâu, chép lại điền thổ nộp lên nha môn. Nam quân Đô đốc phủ chưởng sự kiêm Tông nhân Bình Lạc bá Trịnh Duy Hiếu ban cấp đất bãi, bến đò và ruộng đất Tam bảo. Điền thổ số mẫu sào, thước, tấc kê khai cụ thể tâu trình để xin chỉ dụ. Vì thế nghị thần vâng cấp sắc chỉ. Khâm thử. Bọn Trịnh Duy Hiếu vâng nghị chuẩn của nha môn các khu nguyên châu thổ của châu Cơ Xá huyện Từ Liêm chuẩn nhiêu thuế các ngạch và đắp đê, đắp đường, thuế bến đò, cùng sưu sai các khoản theo như lệ cũ. Ngày 15 tháng 2 năm Quảng Hòa thứ 5 (1545), Tiến công lang Tri huyện huyện Từ Liêm là Vũ Chiêu vào tháng 2 năm đó lập đất tổ. Việc này sau lãng quên, đến tháng 12 năm Tân Tỵ, bản châu tìm lại dấu tích cho khắc lên chuông để truyền về sau. Chung (chuông) Ngày mồng 5, vâng theo bản nha phủ đưa cho một bản. Vào ngày 13 tháng 3 năm này, Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu, Sơn Tây đạo tán trị Thừa tuyên sứ ty Thừa tuyên sứ Nguyễn Cư Nhân tâu trình, cho khám đạc đất trồng dâu dân ấp, cùng bến đò cho theo lệ miễn thuế. Ngày mồng 3 tháng 11 năm Quảng Hòa thứ 4 (1544) bộ Hộ trao cho 1 bản khám đạc. Bản châu vốn được ban sắc chỉ từ đời Hồng Đức triều trước. Bản châu không phải chịu thuế các khoản đất trồng dâu, cùng bến đò và sai dịch các khoản được miễn trừ. Vào năm Quảng Hòa thứ 2 (1541) Tri huyện bản huyện là Vũ Chiêu tra xét sổ sách châu này từ triều trước, trải đến năm Đại Chính thứ 9 (1538) vì châu Cơ Xá trước ngày nhường đất dựng cung điện mà chuẩn cho đất bãi đến nay không phải nộp thuế, cùng bến đò, việc binh, sai dịch chuẩn cho được miễn trừ. Khâm thử. Nguyễn Cư Nhân xem xét châu Cơ Xá sống ở trong sông không có ruộng đất, nguyên thổ ngạch đã vâng lệnh dựng kinh đô từ niên hiệu Đại Chính thứ 10 (1539) trở về trước đã rõ ràng. Việc đó đã khám đạc đầy đủ và đều là sự thực, nên tâu trình lên việc châu Cơ Xá không có ruộng đất để cai bộ tra xét thi hành. Nay Nguyễn Cư Nhân phái riêng viên Thông lại Vũ Bá Tuế, kính cẩn đến cửa phủ tâu trình cụ thể. Văn Phục hầu sắc chỉ: Ngày 14 tháng này vãn triều Đoan Minh môn Ty lễ giám Hữu Đề điểm Nguyễn Công Thanh vâng sắc chỉ. Kính cẩn vâng chỉ. Trừ phi các hạng này không hợp lệ. Sao chép đầy đủ gửi cho Xã trưởng châu Cơ Xá chiếu theo thi hành. Việc này đã thực thi từ nhiều đời trước đến nay, cứ theo lệ trước mà miễn trừ các ngạch thuế, sai dịch, đắp đê, đắp đường. Nguyên đất cũ xây dựng kinh thành được giành một phần để cúng Phật cho tỏ rõ lòng khoan dung của triều đình, chứng minh sự tôn sùng Phật đạo, chúc mạch Thánh thọ bền, lưu truyền mãi mãi. Ngày 15 tháng 4 năm Quảng Hòa thứ 5 (1545), Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu Hộ bộ Thượng thư Văn Trường bá Phạm Chính Nghị, Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu Hộ bộ Tả thị lang Phạm Quang Tá. Đô nguyên soái Tổng quốc chính Thượng phụ Bình An vương, năm Quý Mão vâng nhận bẩm sai triều thần văn quan Hải Dương đạo Giám sát Ngự sử Nguyễn Chính, năm Đinh Mùi, Thiếu bảo Đăng Quận công, năm Ất Mão Nội giám Thuế Long hầu Phạm Long Bằng, năm Mậu Ngọ Cai trưng quan Phái Quận công và Phụng sai Nội giám Quảng Lương hầu, năm Kỷ Mùi Nội giám Dương Nghĩa hầu mời các nha môn về bản châu khám đạc, các khoản miễn từ trước cho biên chép được miễn thuế đất bãi, đắp đê, bến đò cho châu Cơ Cơ Xá. Đến các năm Quý Hợi, Ất Sửu, Đinh Mùi lại ban lệnh chỉ, lệnh dụ chuẩn cho miễn các suất nhiêu, đê đường, bến đò, sai dịch như lệ trước để phụng sự Phật pháp. Đến năm Đinh Hợi, lại vâng phụng sai quan Đô đốc Gia Quận công đến bản châu khám đạc, quả đã rõ ràng, nên lại cho theo lệ cũ. Lại vâng gia chỉ chuẩn cho miễn trừ thuế, lao dịch đắp đê, đắp đường để được suất nhiêu, làm thủ lệ phụng sự Phật. Nha môn Trang 20 (trang chụp 12) Thừa ty tâu biểu lên Đại nguyên súy Tổng quốc chính Tĩnh Đô vương. Vương là bậc anh hùng, lại hay làm việc thiện, rộng ban công đức, không chỉ làm việc thiện ở một nhà, mà mang phúc khánh cho cả nước, lấy tiền quan cúng 20 quan vào chùa phụng Phật. Ngày mồng 9 tháng 10 năm Đức Long thứ 3 (1631). Ngày lành tháng trọng đông (tháng 11) năm Canh Ngọ niên hiệu Chính Hòa thứ 11 (1690). Chân truyền gia pháp, Diễn giáo Tế sinh chính phái đạo sư, kiêm Tư văn trưởng Xã chính Túc Đường nam Ngô Đăng Tiến soạn minh chuông. (khắc trong lòng chuông): Đại nguyên súy Tổng quốc chính Thượng phụ Bình An vương lệnh chỉ. Tướng thần, xã thôn trưởng châu Cơ Xá huyện Từ Liêm gồm Nguyễn Ngọc Trân, Nguyễn Ngọc Quang, Nguyễn Ngọc Diên, Ngô Đức Thực, Ngô Đức Nhân, Ngô Đăng Đệ, Lê Đăng Cao, Đào Quang Phụ, Nguyễn Lâm Vệ, Nguyễn Thọ Quang cùng toàn châu dâng tờ khải. Nguyên là ngạch thổ cư bản châu ở trong nội thành đã dâng vua để xây dựng kinh thành, chuẩn cho sinh sống ở trong sông, không có ruộng đất. Vâng được cấp ruộng đất: trên từ Quai Luân giáp châu Tam Thực, dưới đến Ông Mạc, Quyết Thủy, châu Đồng Nhân: đông giáp các xã Bắc Cầu, Lâm Giá, Gia Thị, Ái Mộ; nam giáp các phường Ông Mạc, Quyết Khẩu, Đông Tân, Hà Khẩu, Đồng Xuân; tây giáp các phường Quảng Bá, Tây Hồ, Nghi Tàm, Yên Hoa, Hòe Nhai; bắc giáp các xã Xuân Canh, Ngạn Bắc, Cầu Gia Thượng, Gia Quất. Đã nhiều lần được vua chuẩn ban lệnh chỉ cho bản châu. Hàng năm các việc đắp đê, đắp đường, thuế khóa, thuế bến sông, đò ngang, đò dọc và sưu sai các việc chuẩn cho suất nhiêu để được miễn trừ. Nhân đã được kiểm tra, đúng là sự thực, nên chuẩn cho miễn trừ như trước. Hàng năm đắp đê, đắp đường, thuế khóa, thuế bến sông, đò ngang, đò dọc và sưu sai các việc chuẩn cho triều quan và nha môn trưng thu thuế chiểu theo mà miễn trừ. Nếu ai làm trái sẽ phải chịu tội. Nay ban lệnh. Ngày mồng 5 tháng 2 năm Vĩnh Tộ nguyên niên (1619). Lệnh chỉ. Đại nguyên súy Tổng quốc chính Thượng phụ Bình An vương lệnh chỉ. Quan viên xã thôn trưởng, tướng thần châu Cơ Xá huyện Từ Liêm gồm Nguyễn Ngọc Diên, Nguyễn Ngọc Quang, Ngô Đức Nhân, Nguyễn Ngọc Thụy, Nguyễn Hữu Lộc, Lê Đăng Khoa, Hoàng Trọng Thành, Nguyễn Văn Khoa, Đỗ Chân Năng, Đinh Kim Thành, Nguyễn Thừa Long cùng toàn châu vâng tâu quan Cai trưng Thiếu bảo Đăng Quận công rằng: Nguyên là ngạch đất bản châu ở trong nội điện dâng để xây dựng kinh thành, được vua chuẩn cho định cư ở trong sông không phải chịu thuế ngạch. Định lệ rằng, có đò ngang tại xứ Bến Thạch điện Quảng Đức đến địa phận xã Gia Liệt huyện Gia Lâm, trên từ sông An Tôn, Thiên Đức, dưới đến Trưng Văn, Đồng Xuân, Tráng Sĩ: Đông biên Tráng Sĩ, Nam biên Trưng Văn, Tây biên Ngự Liễn, Bắc biên Thiên Đức giang. Còn đò dọc thì trên từ các chợ hai bên sông thuộc Thụy Hương, Đông Ngạc, Phao Cương, Lực Canh; dưới đến các phường Trưng Văn, Hà Tân, Ông Mặc, Quyết Thủy. Thuyền chở hành khách, cùng binh mã, sứ thần và thê tử qua lại, cả việc mua bán dâu tằm ở các chợ, các châu bên bãi. Nhân đã điều tra sự thực mà chuẩn cho miễn trừ như lệ cũ, để phụng thờ đèn nhang Thần từ là vị Đại càn quốc gia Nam hải Tứ da nương công chúa để cầu quốc mạch dài lâu. Từ nay hàng năm các bến đò ngang, đò dọc, quan thu thuế chiểu theo suất nhiêu mà miễn trừ, không được thu thuế. Ai làm trái, sẽ bị phạt. Nay ban lệnh chỉ. Ngày 26 tháng 6 năm Vĩnh Tộ thứ 2 (1620). Trang 21 (trang chụp 13) (khắc trên ô ngang chuông) Vào năm Canh Ngọ (1690), toàn dân trong bản châu mỗi người đóng 2 mạch tiền cổ và 1 thăng gạo để đúc chuông lớn. Nhưng Ngô Đăng Tiến mạo xưng là Am Sinh đường, tước Nam khắc lên chuông. Bản châu bẩm báo lên quan phủ liêu. Quan phủ phạt tội Ngô Đăng Tiến 30 quan tiền cổ để trừng phạt tội giả mạo. Cho bản châu mài bỏ chữ khắc để tránh về sau nghi ngờ bản khắc này giả mạo cùng các bản khắc chỉ dụ cũng là giả mạo. Ngày tháng 12 năm Tân Tỵ (1701), bản châu cho mài chỗ giả mạo này và ghi tiền phạt khắc lên chuông để truyền về sau. (Ô phía dưới): Khâm sai các tiết chế các xứ Thủy bộ chư dinh chưởng quốc quyền bính Tả tướng Thái úy An Quốc công là người nuôi dưỡng tâm đức, phù giúp cơ đồ vận nước, có nhiều công đức, đã cúng 15 quan tiền cho chùa để tụng kinh sám hối. Công đức thật lớn lao, khiến cho bản thần được sức khỏe, vận nước kéo dài mãi mãi. Nay châu Cơ Xá có được bến đò, sưu sai tạp dịch được chuẩn miễn trừ dùng vào việc tu sửa Tam bảo để đèn nhang cầu Thánh, nối dài quốc mạch. Bản châu quan viên xã thôn hương trưởng trên dưới nghĩ rằng, tại nghe không bằng mắt thấy, do đó khắc lại để lưu danh. Vì thế liền khắc lên chuông, lưu truyền mãi đời sau. Nhân duyên công đức, không thể đo lường được. Ngày 20 tháng 5 năm Phúc Thái thứ 9 (1651). [Bên lề trái, ngang dòng "Ngày 20 tháng 5 năm Phúc Thái thứ 9 (1651)", có một dấu khoanh bằng mực đỏ.] Bài ký đúc chuông lớn chùa An Xá Quan viên, xã thôn trưởng châu Cơ Xá, huyện Từ Liêm, phủ Quốc Oai đạo Sơn Tây, nước Đại Việt, gồm Ngô Đăng Long, Nguyễn Hữu Nghĩa, Nguyễn Ngọ Bài, Nguyễn Ngọc Đường, Xã chính Ngô Đăng Tiến, Xã sử Nguyễn Danh Chấn, Xã tư Hồ Như Chức, Hương trưởng Nguyễn Quang Huy, Hà Văn Thức, Đào Quang Nha, Ngô Văn Khả, Ngô Văn Trật, Ngô Thọ Sưu, Nguyễn Văn Đạm, Nguyễn Hữu Nghi, Đặng Văn Quan, Nguyễn Văn Tính, Lê Bá Ngũ, Nguyễn Như Diện, Ngô Văn Giáo, Ngô Văn Diệm, Nguyễn Thọ Thật, Nguyễn Phú Diễn, Đinh Như Nhiễu, Đinh Đắc, Nguyễn Văn Nghị, Nguyễn Đình Thốn, Đỗ Duy Trí, Đinh Đắc Bùi, Nguyễn Hữu Duy, Nguyễn Văn Giáp, Nguyễn Văn Hợp, Nguyễn Đình Lộc, Đỗ Văn Hậu, Nguyễn Danh Nho, Nguyễn Sĩ, Lê Phú Cẩm, Hương trưởng Nguyễn Phú Thử, Đinh Kim Sinh, Thủ dịch Lê Văn Chính, Trưởng phiên Đào Quang Đê, Nguyễn Văn Năng, Lê Phú Thế, Thôn trưởng Ngô Văn Hàm, Đào Quang Ngạc, Nguyễn Văn Lương, Nguyễn Như Vĩnh, thần Phạm Sĩ, Lê Kim Chi, Đinh Kim Hiên, Hà Văn Luân, Ngô Đăng sĩ và Nguyễn Sĩ Khiếp, Nguyễn Văn Dao, Nguyễn Hữu Lộc, Phạm Sĩ Chẩn, Nguyễn Văn Triệt, Đỗ Duy Chử, Nguyễn Ngọc Duy. Giáp Thượng Bô: Ngô Văn Sơn, Nguyễn Thọ Vinh, Nguyễn Sĩ Lai, Nguyễn Thế Hợp, Lê Văn Thạch, Nguyễn Vĩnh Thọ, Nguyễn Văn Muộn, Nguyễn Văn Tịch, Nguyễn Thừa Nhàn, Hồ Quang Tín, Ngô Văn Hội. Nguyễn Văn Lượng, Lê Kim, Nguyễn Đình Quán, Nguyễn Sĩ Am. Giáp Lão Tây: Nguyễn Văn Chất, Nguyễn Văn Ẩn, Nguyễn Thế Ích, Lê Phú Xứ, Lê Doãn Thái, Nguyễn Đình Tính, Nguyễn Như Khải, Nguyễn Văn Tá, Hồ Như Nại, Nguyễn Thừa Lương, Nguyễn Phú Miên, Hoàng Ngọc Thứ, Đặng Văn Kỳ, cùng quan viên bô lão hương sắc xã thôn trưởng trên dưới trong châu vốn bản châu có chùa An Xá là danh lam cổ tích, nhưng chưa có hồng chuông. Nay bản châu trên dưới hưng công, góp gia tài tạo đúc hồng chung, khắc lại lệnh chỉ trên chuông để truyền hậu thế. [Bên lề trái, ngang dòng "Lê Doãn Thái, Nguyễn Đình Tính…", có một dấu x viết tay.] Thường nghe, tiếng chuông phát ra trong tự nhiên, không phải là Thánh thì là ai chế tác vậy? Xưa Hiên Viên Hoàng đế đúc chuông mà hưng trị, Nghiêm Kỳ định âm luật mà nhà Hạ thành tổ nhạc, lại treo bốn bên, khắc rõ trên đá lưu truyền đến nay. Đương thời, đạo vua hưng thịnh, vương gia trị bình. Sớm mai thỉnh chuông chiêu tập pháp gia, phật Trang 22 (trang chụp 14) tử gia trì hội chân nguyên, nhàn du vui cảnh thanh tịnh. Thượng điện khánh thành, chim cá theo về, ung dung tấu khúc tiêu Thiều. Tiền đường uy nghi, phượng múa lung linh, giữ vững quyền uy, thuần hậu phong tục, sĩ thứ tôn sùng, thôn xóm truyền giáo, văn nghiệp huy hoàng, đất trời khởi sắc, con trẻ vui ca, nhảy múa thung dung, khí tượng thuần thục. Cảnh chùa thanh tịnh, xóm thôn mừng rỡ, du khách tươi cười, nơi nơi như bước vào thọ vực, cuộc sống no đủ, người người cùng hưởng thái bình. Đạo nhà trên dưới tốt đẹp, luôn có lòng lành thương yêu nhau. Liền không tiếc tiền của gia tư đúc thành bảo khí, cầu âm đức vẹn toàn. Nhân đó mời thợ giỏi về đúc một quả chuông lớn hoàn hảo, nghìn năm vang mãi. Chuông (…). Nay sao khắc lại như mới, giữ lấy dấu xưa tổ nghiệp. Cháu con nối dài, tốt đẹp tầm tang, tháng năm hưng thịnh. Để được chức tước, đức độ, tuổi thọ. Tôn thế các đời đạt đến ba điều tôn quý, là: Thọ, Phú, Khang. Phúc lớn hưởng đến chức Thượng thư. Ngũ phúc lớn như núi như gò, tuổi hạc nhiều thêm, xóm ấp rạng ngời, nhà nhà mới tươi, trâm anh kế nối, họ tộc hiển vinh, đời đời quan chức, y bát ngời ngời, xóm làng công đức, phúc lộc dồi dào. Dù có khắc thơ lên thạch cổ, chạm vào bia Ngô Khê, cũng không đủ để hình dung muôn một. Chuông lớn ngời ngời, khắc ở cung vua, lưu truyền mãi mãi. Khi này có các sãi vãi bản châu và bản tự công đức, cùng phổ khuyến tổng cộng 12 quan 20 văn tiền sử. Lê Đăng Cường tự Phúc Thọ, Lê Kim Bảng tự Phúc Quảng 1 quan tiền sử. Nguyễn Quang Vinh tự Phúc Hoa 1 quan, Nguyễn Văn Bì tự Phúc Hiền 1 quan, Lê Đăng Bình tự Phúc Lan 1 quan, Đinh Đắc Điện tự Phúc Sơn, Nguyễn Văn Minh tự Phúc Huệ 1 quan, Đào Quang Sao tự Phúc Nguyên, Nguyễn Ngọc Lũng tự Phúc Thành, Nguyễn Sĩ Thiêm và vợ Nguyễn Thị Viết 1 quan. Lê Văn Khi tự Phúc Thông, Nguyễn Văn Thuận tự Phúc Đường, Ngô Văn Hiển tự Phúc Tăng, Nguyễn Văn Cựu tự Phúc Độ, Đinh Kim Thạch tự Phúc Hưng, Nguyễn Hữu Vinh tự Phúc Hiển, Lê Văn Mẫn tự Phúc An. Mọi người trong bản châu công đức. Vương phủ Thị nội cung tần Nguyễn Thị Bình cúng tiền gửi giỗ cho Hiển khảo. Nguyễn Như Thành tự Phúc Lân đạo hiệu Huyền Tức, Ngô Văn Diễm vợ Đặng Thị Cánh cúng 3 dật đồng. Lê Văn Chính, vợ Phan Thị cúng 1 quan gửi giỗ cho cha đẻ Lê Công tự Phúc Lãnh, mẹ hiệu Từ Nhân. Nguyễn Hữu Tước, vợ Nguyễn Thị Chế gửi giỗ cho cha tự Phúc An. Ngô Đăng Long tự Huyền Quảng đạo hiệu Đức Nhuận, vợ Hồ Thị Điển, thiếp Nguyễn Thị Tôn cúng 2 quan tiền sử gửi giỗ cho cha đẻ là Tiền Tế Sinh đường Nguyễn Vũ Hóa, cụ sư kiêm tri Trùm trưởng giáp Tư văn Ngô Văn Tổng tự Phúc Kiêm đạo hiệu Huyền tiên sinh và mẹ Nguyễn Hồng hiệu Từ Thái nhụ nhân. Nguyễn Hữu Nghĩa tự Đạo Trạch, thiếp Ngô Thị Thuyền cúng 1 quan tiền sử gửi giỗ cho cha Nguyễn quý công tự Phúc Tâm, mẹ Nguyễn thị hiệu Từ Mẫn. Ngô Đăng Tiến tự Huyền Huệ, đạo hiệu Đức Trạch và thiếp Nguyễn Thị Hữu 1 quan tiền sử gửi giỗ cho Hiển tổ khảo Tiền viên tử kiêm Tế Sinh đường viện Tri Tư văn trưởng Ngô Đức Nhân tự Phúc Trai, đạo hiệu Huyền Thông tiên sinh và mẹ Lê Thị Ty hiệu Từ Tại nhụ nhân, cùng tằng tổ khảo. Triều Tuấn bá Nguyễn Ngọc Bài, vợ Nguyễn Thị Nãi, Phạm Thị Phát gửi giỗ cho hiển khảo Tiền Triều Cáo hầu họ Nguyễn, tỉ Nguyễn quý thị, hiệu Từ Tại nhụ nhân, tổ khảo Tiền Tả tượng Cai quan, tặng Tả Đô đốc Thái bảo Văn Phủ quân, tỉ Nguyễn Thị Hình hiệu Từ Minh nhụ nhân. Tiền Nhân Trung hầu tặng Quảng Quận công Nguyễn Quý công tự Nhất Vật. Trịnh Lương quê quán xã Biện Thượng và vợ Trịnh Thị Lãm, cùng các con Trịnh Cơ và Trịnh Thị Phúc, Trịnh Thị Lộc cúng 5 quan tiền sử gửi giỗ Trang 23 (trang chụp 15) cho Hiển tỉ Đinh Thị hiệu Diệu Minh. Trần Thị hiệu Từ Ân gửi giỗ cho Hiển khảo tự Phúc Trực. Hưng công và tín sãi vãi: Lê Thị Hi hiệu Diệu Duyên. Tứ phiên tuần trong châu có công dựng gian nhà chay và và xây tường xây bốn phía chùa. Ngày đêm trông coi việc đúc chuông viên mãn, con cháu hưng thịnh. Thập phương phổ độ tín thí, gồm các tôn quý, sãi vãi, thiện nam tín nữ và bách tính ở các thôn xã khác đến công đức, tập phúc lương duyên, phúc khánh đến con cháu, gồm: Lê Phú Phiếm, vợ Nguyễn Thị Tá cúng 1 quan tiền sử, Hà Văn Duyên, vợ Nguyễn Thị Ẩn cúng 1 quan tiền sử. Ngô Đăng Đệ vợ Nguyễn Thị Khuông, thiếp Nguyễn Thị Đỉnh cúng 1 quan tiền sử. Nguyễn Như Khải, vợ Hồ Thị Tinh cúng 1 quan tiền sử. KHẢO CỨU: CHUÔNG CHÙA AN XÁ, LONG BIÊN, HÀ NỘI Chuông chùa An Xá, phường Ngọc Thụy, quận Long Biên, thành phố Hà Nội, đúc năm Chính Hoà thứ 11 (1690) thời Lê. Đây là chuông chùa, nhưng lại được khắc lên nhiều chỉ dụ của phủ Chúa thế kỷ XVII-XVIII miễn sưu thuế cho người dân địa phương này do nhường đất ở trong nội điện để nhà Lý xây dựng thành Thăng Long mà định cư ở bên sông không có ruộng trồng cấy. Đây là một trong số ít chuông đồng cổ ở làng xã người Việt còn lưu giữ được, đặc biệt nội dung tư liệu khắc trên chuông này có giá trị lịch sử văn hóa vô cùng quý giá. 1. Khái quát về chùa An Xá và chuông An Xá Chùa An Xá là tên gọi theo địa danh làng An Xá. Làng An Xá vốn tọa lạc trong thành Đại La trước khi Lý Thái Tổ từ Hoa Lư ra đây lập kinh đô Thăng Long. Năm 1010 dân làng dời nhà cửa và cả chùa ra bãi giữa sông Hồng để nhường chỗ cho vua xây cung điện. Khi chuyển ra sinh sống ở bên sông thì thì tên làng được gọi là Cơ Xá châu 機舍洲, chữ châu có nghĩa là bãi sông, tương tự tên gọi ấp, hương ở làng xã trong sông; còn tên chùa vẫn mang tên làng cũ An Xá (An Xá tự 安舍寺: chùa An Xá). Tuy gọi là châu, nhưng về mặt tổ chức hành chính thì châu này tương đương với đơn vị hành chính xã như ở các làng xã khác. Theo truyền thuyết ở địa phương được chép lời tựa Gia phả họ Lê tại làng, thì tên gọi Cơ Xá được đổi đặt từ thời Lý. Truyền thuyết rằng: "Một hôm vua Lý Thần Tôn hoàng đế (1128-1132) cưỡi thuyền rồng đi ngắm cảnh nơi đây thấy các nhà trong dân đều làm sàn để ở nên lấy chữ Cơ (機) đặt tên cho. Tên Cơ Xá bắt đầu có từ đây"¹. Thời Lê, Mạc và Lê trung hưng thế kỷ XV đến XVIII, châu Cơ Xá thuộc huyện Từ Liêm, đạo Sơn Tây, như minh văn trên chuông này viết "Ngày 14 tháng 2 năm Hồng Đức thứ 18 (1487), Ty Lễ giám Tổng Thái giám tri Giám sự Phúc Dương bá Nguyễn ¹ Dẫn theo Nguyễn Xuân Hòa, Nguyễn Hữu Tưởng, «An Xá- Cơ Xá – Phúc Xá lịch sử một tên làng gắn với lịch sử Thăng Long», Tài liệu đã dẫn, tr.198. Trang 24 (trang chụp 16) Xuân Lan truyền cấp một bản, chuyển cho châu Cơ Xá, huyện Từ Liêm, nội lệ vào đạo Sơn Tây". Thời Nguyễn, châu Cơ Xá thuộc phường Cơ Xá, huyện Thọ Xương, tỉnh Hà Nội, năm 1851 chuyển về huyện Gia Lâm tỉnh Bắc Ninh. Thời kỳ xây dựng Hợp tác xã ở miền Bắc, năm 1961, làng này thuộc xã Ngọc Thụy, huyện Gia Lâm, Hà Nội; đến tháng 11 năm 2003, khi thành lập quận Long Biên thì xã Ngọc Thụy đổi thành phường Ngọc Thụy, trong đó làng này đổi thành cụm dân cư Bắc Biên thuộc phường này, quận này. Châu (làng) An Xá này còn có ngôi đình thờ Thái úy triều Lý là Lý Thường Kiệt, vị anh hùng dân tộc vốn quê gốc tại làng An Xá. Chùa An Xá, năm 1893 chuyển sang tả ngạn sông Hồng do con sông này đổi dòng. Nhưng do bờ sông bị xói lở, nên đến năm 1920 chùa phải dời sâu vào chân đê và tồn tại đến nay. Ngày nay, chùa được gọi là chùa Bắc Biên nằm trong một khuôn viên rộng gần 3.000m2, cạnh ngôi đình Phúc Xá, cả hai cùng quay mặt hướng nam nhìn ra một ao sen. Chùa An Xá đã được Bộ Văn hóa-Thể thao và Du lịch xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa, năm 1989. Chùa có Tam quan mới được tôn tạo, gồm 3 cửa xây 2 tầng, mái đắp ngói ống giả, trên gác giữa treo quả chuông cổ này. Chuông có hình dáng khá đẹp, thon thả, tiếng chuông âm vang vẫn được sử dụng hàng ngày. Chuông có quai chuông là hai hình rồng đấu lưng vào nhau, thân rồng có vẩy, móng rồng khá mập bám chặt lấy óc chuông làm thành quai chuông chắc chắn. Thân chuông cao 0,95m, đường kính miệng 0,65m, quai cao 0,3m. Chuông có 6 núm đúc nổi, trong đó 4 núm chỉ bốn phương Đông, Tây, Nam, Bắc, còn hai núm đối diện hai bên Đông và Tây để thỉnh. Tên chuông có 4 chữ đại tự là "An Xá tự chung" được khắc ở phía trên mỗi mặt chuông từ phải qua trái theo vòng chuyển Pháp luân, tương tự chiều kim đồng hồ ngày nay. Minh văn bằng chữ Hán, chữ viết theo lối khải chân phương, có chữ trừ được viết theo lệ kiêng húy thời Lê (đảo bộ và thêm bộ phía trên), ngoài ra còn có một chữ Nôm: Trùm, trong chức danh Trùm trưởng ở làng xã. Văn bản khá dài, được khắc kín trên thân chuông và cả trong lòng chuông. Cả thảy gồm 5.510 chữ Hán, một kỷ lục số lượng chữ khắc trên chuông đồng cổ ở làng xã người Việt. Chữ viết chân phương, được khắc chìm, nét khắc khá sắc nên tuy chữ nhỏ, nhưng chữ đều khá rõ. Thân chuông được chia làm 4 mặt (hay múi) được ngăn cách bởi các đường kẻ nổi theo chiều dọc. Mỗi mặt đó lại được chia làm hai theo bề ngang được ngăn cách bởi gờ nổi chạy quanh thân chuông. Bốn ô phía trên thân chuông được khắc nội dung 7 chỉ dụ của phủ liêu cho châu Cơ Xá. Còn hai chỉ dụ khác được khắc trong lòng chuông. Bốn ô phía dưới thân chuông ghi bài minh việc đúc chuông và kê tên người công đức đúc chuông. Lạc khoản minh chuông không được khắc ở trên chuông như các chuông khác, mà ở đây lại khắc trong lòng đường gờ ngăn cách múi chuông. Lạc khoản ghi khá rõ về năm đúc chuông và người soạn viết chữ trên chuông như sau: Ngày lành tháng trọng đông (tháng 11) năm Canh Ngọ, niên hiệu Chính Hòa thứ 11 (1690). Rõ ràng là chuông này được đúc năm Canh Ngọ (1690) đời vua Lê Hy Tông (1676-1705), cách ngày nay đúng 333 năm. Trang 25 (trang chụp 17) 2. Nội dung văn bản khắc trên chuông Nội dung văn bản khắc trên chuông khá phong phú, được chia ra thành nhiều phần khác nhau. Trước hết và trọng tâm là khắc lại 9 lệnh chỉ của Phủ Chúa cấp cho châu Cơ Xá vào thời Lê Trịnh thế kỷ XVII-XVIII, bao gồm: Lệnh chỉ Bình An vương (Trịnh Tùng) ngày 18 tháng 9 năm Vĩnh Tộ thứ 1 (1619). Lệnh chỉ ngày mồng 7 tháng 12 năm Vĩnh Tộ thứ 5 (1623) của Thanh Đô vương (Trịnh Tráng). Lệnh chỉ ngày mồng 9 tháng 8 năm Vĩnh Tộ thứ 7 (1625). Gia chỉ ngày 20 tháng 6 năm Phúc Thái thứ 5 (1647). Lệnh dụ ban ngày 22 tháng 3 năm Thịnh Đức thứ 2 (1654). Lệnh dụ ban ngày mồng 9 tháng 10 năm Đức Long thứ 3 (1631). Lệnh chỉ ban ngày mồng 5 tháng 2 năm Vĩnh Tộ nguyên niên (1619). Lệnh chỉ ban ngày 26 tháng 6 năm Vĩnh Tộ thứ 2 (1620). Lệnh dụ ban ngày 20 tháng 5 năm Phúc Thái thứ 9 (1651). Trong số 9 chỉ dụ này, 7 chỉ dụ đầu được khắc kín trên bốn ô trên thân chuông, còn hai chỉ dụ sau được khắc trong lòng chuông. Nội dung các chỉ dụ này đều đề cập đến việc miễn sưu thuế, tạp dịch cho dân Cơ Xá vì vốn người dân ở đây từng nhường đất trong nội thành Thăng Long để vua nhà Lý xây dựng kinh đô, cụ thể như một số đoạn trích trong số Chỉ dụ sau: "Nguyên là dân bản châu (làng trên đất bãi) xưa sống ở nội thành, đã vâng lệnh xây dựng kinh đô mà chuẩn cho chuyển cư sống ở bên sông, không có của cải, ruộng đất cấy cày. Bản châu từng được phê chuẩn miễn trừ mọi khoản thuế khoá, thuế đò, cùng các sưu sai đóng góp việc đắp đê, làm đường. Nay được nha môn quan Tổng cán vâng lệnh chuẩn cho được miễn trừ" (Chỉ dụ năm Vĩnh Tộ nguyên niên: 1619). "Nguyên là dân bản châu xưa sống ở nội thành, đã vâng lệnh xây dựng kinh đô mà chuẩn cho chuyển cư sống ở trong sông, không có của cải, ruộng đất. Từng được vua ban chỉ miễn trừ sưu thuế. Bản châu hàng năm khi có việc đắp đê, đắp đường và sưu thuế, thuế bến đò đã được chuẩn ban miễn trừ vào năm Kỷ Mùi. Nhân được tra xét đúng như sự thực, nên chuẩn cho vâng lệnh chỉ như trước. Đến kỳ, nha môn quan trưng thu thuế, quan tổng cán không được trưng thu". (Chỉ dụ năm Vĩnh Tộ thứ 5: 1623)… [Sau dấu "…" cuối đoạn trên có một ghi chú viết tay bằng mực đỏ, không đọc được rõ.] Những chỉ dụ này đều xác nhận rõ là dân cư châu Cơ Xá vốn sống trong nội thành Thăng Long, đã nhường ruộng đất để triều đình nhà Lý xây dựng kinh đô mà dời đến định cư ở đây. Hơn nữa, nơi đây ở bãi sông, dân làng không có ruộng đất trồng trọt mà chỉ có đất bãi trồng dâu nuôi tằm, cùng nghề lái đò trên sông, nên được triều đình hàng năm miễn sưu thuế, phu phen tạp dịch, kể cả thuế đò ngang, đò dọc. Tư liệu khắc trên chuông này cho biết, việc miễn sưu thuế, tạp dịch cho dân châu Cơ Xá này được ban chiếu chỉ từ thời Lý, đặc biệt là được biên chép khá đầy đủ thời thời Lê sơ thế kỷ XV, trở thành lệ được duy trì ở thời Mạc thế kỷ XVI và chính thức được ban cấp lệnh chỉ dưới thời Lê Trịnh thế kỷ XVII-XVIII. Thời Mạc tiếp tục duy trì thể lệ này, miễn sưu thuế cho dân cư nơi đây. Trang 26 (trang chụp 18) Tư liệu còn cho biết cụ thể hơn về đất tổ nghiệp. Đặc biệt, tư liệu minh chuông cho biết, ruộng đất và cơ nghiệp của dân An Xá này vốn ở trong nội điện là đất tổ của Lý Thường Kiệt là đại công thần nhà Lý. Văn bản trên chuông có đoạn viết "Cơ nghiệp của bản châu là đất tổ của quan Trung thư Xá nhân Trung thư giám Đình úy sứ, Quảng Châu hầu được ban quốc tính Lý Thường Kiệt, thụy Quảng Châu phủ quân. Lấy phúc điền lập làm đất tổ. Trước ngày, nước Đại Việt ta, từ khi triều Lý lập kinh đô, trải đến thời vua Lê Thái Tổ đều có sắc chỉ, chuẩn cho miễn trừ mọi khoản đóng góp theo như lệ từ trước". Minh văn này cũng cho biết cụ thể hơn Lý Thường Kiệt vốn họ Ngô, được ban quốc tính họ Lý, có đất tổ nghiệp trong nội điện do cư dân An Xá canh tác phụng thờ. Vì thế khi dời khỏi nội điện sang sống bên sông thuộc châu Cơ Xá này, dân làng đồng thời phụng thờ ngài Lý Thường Kiệt ở chùa và đình làng. Tư liệu minh chuông còn cho biết, nơi đây có bến đò ngang, hành khách đi lại khá tấp nập, trong đó có cả việc đi lại của quân sĩ, sứ thần "Thuyền chở hành khách, cùng binh mã, sứ thần và thê tử qua lại, cả việc mua bán dâu tằm ở các chợ, các châu bên bãi. Nhân đã điều tra sự thực mà chuẩn cho miễn trừ như lệ cũ, để phụng thờ đèn nhang Thần từ là vị Đại Càn quốc gia Nam Hải Tứ Da nương Công chúa để cầu quốc mạch dài lâu. Từ nay hàng năm các bến đò ngang, đò dọc, quan thu thuế chiểu theo suất nhiêu mà miễn trừ, không được thu thuế. Kẻ nào làm sai sẽ bị phạt. Nay ban lệnh"… (Lệnh dụ ngày 26 tháng 6 năm Vĩnh Tộ thứ 2: 1620). Bến đò ngang ở đây chính là nối giữa nội đô ở phía Nam sông Hồng với phía Bắc sông Hồng để đi lên phía Bắc. Nơi đây từng có quân sĩ và sứ thần đi qua, chứng tỏ bến sông này là cửa ngõ trọng yếu phía Bắc kinh đô Thăng Long trước đây. Thực tế, vị trí châu Cơ Xá này, nay thuộc Bắc Biên nằm giữa ngã ba sông, một nhánh chảy xuôi xuống phía Nam, một nhánh phân sang phía Đông có vị trí sông nước hiểm yếu, nên có đền thờ Thủy Thần mà tên hiệu Thần là Đại càn quốc gia Nam hải Tứ da nương công chúa như Chỉ dụ đã nêu. Ngôi đền này hiện nay ở đầu thoi đất nhô ra ngã ba sông thuộc địa phận Bắc Biên tạo thành thế "tụ thủy" chung linh tú khí, có tên là Đền mẫu Đôi Cô với trung tâm là Tam tòa Thánh mẫu trong Hậu cung, cùng một số gian thờ Thần đạo giáo ở tòa Tiền tế. Thực tế, đền Mẫu phản ánh tục thờ Mẹ Nước (Mẫu Thoải) kết hợp với việc trừ ma thuật của cư dân vùng sông nước. Phần cuối văn bản là bài ký ghi việc đúc chuông chùa An Xá này vào năm 1690, do Quan viên, xã thôn trưởng châu Cơ Xá đứng ra quyên góp, tổ chức đúc chuông; đồng thời ghi tên người công đức tiền gạo đúc chuông. Trong số người công đức đúc chuông, có người cúng tiền để gửi giỗ cho gia tiên. Một điều khá nổi bật khác là, trên chuông còn khắc một đoạn văn bản liên quan đến việc giả mạo danh tính để khắc lên chuông đã bị dân ấp tâu trình quan trên và bị xử phạt, như đoạn khắc sau: "Ngô Đăng Tiến mạo xưng là Am Sinh đường, tước Nam khắc lên chuông. Bản châu bẩm báo lên quan phủ liêu. Quan phủ phạt tội Ngô Đăng Tiến 30 quan tiền cổ để trừng phạt tội giả mạo. Ngày tháng 12 năm Tân Tỵ (1701), bản châu cho mài chỗ giả mạo này và ghi tiền phạt khắc lên chuông để truyền về sau". Ngô Đăng Tiến nêu ở đây chính là người sao lục và soạn minh chuông "Tư văn trưởng Xã chính Túc Đường nam Ngô Đăng Tiến soạn và viết chữ trên chuông". Chính vì là người soạn thảo minh văn để Trang 27 (trang chụp 19) khắc lên chuông mà vị này vốn chỉ là một Pháp sư kiêm nhiệm chức Tư văn trưởng của Hội Tư văn, nhưng tự mạo xưng tước nam, Túc Đường nam. Điều này không phù hợp với thuần phong mỹ tục của dân làng, nên bị dân làng tâu trình lên quan trên và bị phạt rất nặng bằng số tiền là 30 quan; đồng thời còn khắc lên chuông để truyền mãi về sau. Việc mạo danh khắc lên chuông vào năm hoàn thành đúc quả chuông này, năm Canh Ngọ (1690). Sau đó đến năm Tân Tỵ (1701) mới khắc lại sự việc này, nên phải khắc trên khe diềm ngang của chuông mà lưu truyền về sau để răn đe. Kết luận Chuông chùa An Xá phường Cơ Xá, nay thuộc phường Ngọc Thụy, quận Long Biên, thành phố Hà Nội được đúc năm 1690 đời vua Lê Hy Tông. Quả chuông này gắn với ngôi chùa và cư dân An Xá vốn có đất lập nghiệp trong nội thành Thăng Long, do nhường đất để vua nhà Lý xây dựng kinh đô mà chuyển ra bãi sông, nên tên làng được gọi là châu (bãi sông bồi) Cơ Xá (nhà ở có sàn cao chống ngập nước). Vùng đất An Xá trong kinh thành cũng là đất tổ nghiệp của vị đại thần nhà Lý, Lý Thường Kiệt. Chính vì có công với triều đình như vậy, hơn nữa thực tế dân cư châu này không có điền sản, chỉ sống bằng nghề trồng dâu nuôi tằm và chở đò, nên được triều đình từ nhà Lý đến nhà Lê ban lệnh chỉ miễn phu phen tạp dịch, sưu thuế các khoản. Những chỉ dụ liên quan đến sự kiện trên hầu như không được sao chép, lưu giữ trong thư tịch và lưu trữ. Rất may mắn là tư liệu này được sao lục khá đầy đủ và được khắc lên chuông vào năm 1690. Đây chính là văn bản gốc, xác thực đề cập đến công cuộc xây dựng và phát triển kinh thành Thăng Long từ khi vua Lý Thái Tổ định đô. Đó cũng chính là chính sách của triều đình xưa đối với việc di dân từ nội thành ra ngoài, thiết nghĩ đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Chuông được đúc khá tinh xảo, cùng văn tự khắc trên chuông vô cùng điêu luyện tạo thành tác phẩm nghệ thuật quý giá. Chuông và minh văn trên chuông đúng là di sản văn hóa đặc sắc, xứng đáng được tôn vinh là Bảo vật quốc gia. Tài liệu tham khảo Hoàng Xuân Hãn, Lý Thường Kiệt lịch sử ngoại giao và tông giáo triều Lý, Nxb Khoa học xã hội, 2015, tái bản theo bản in năm 1949 của Nhà xuất bản Sông Nhị, Hà Nội. Bùi Xuân Đính, Bách khoa thư làng Việt cổ truyền, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội 2022. Nguyễn Xuân Hòa, Nguyễn Hữu Tưởng, «An Xá- Cơ Xá – Phúc Xá lịch sử một tên làng gắn với lịch sử Thăng Long», Thông báo Hán Nôm học 2002, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Nxb Khoa học xã hội, 2003, tr.196-201. Bùi Xuân Đính, "Làng Bắc Biên", Báo Hà nội Mới, ngày 29/01/2008 http://hanoimoi.com.vn/Tin-tuc/1000_nam_thang_long/157838/lang-b7855%3Bc-bien Chu Minh Khôi, «Quả chuông quý ở chùa An Xá», Báo Giác Ngộ Online, 30/06/2010. https://giacngo.vn/qua-chuong-quy-o-chua-an-xa-post9613.html Minh họa : [Hết trang 27; phần minh họa (ảnh) không có trong 19 trang chụp.]