Chùa Bắc Biên (Phúc Xá Tự – Long Biên, Hà Nội)
1 tháng 4, 2022
Chùa Bắc Biên xưa kia có tên gọi là chùa An Xá, tên chữ là Phúc Xá, thuộc làng An Xá, ngày nay, chùa thuộc tổ dân phố số 8, phường Ngọc Thụy, quận Long Biên, thành phố Hà Nội....
Tên gọi và vị trí địa lý
Chùa Bắc Biên xưa kia có tên gọi là chùa An Xá, tên chữ là Phúc Xá, thuộc làng An Xá, ngày nay, chùa thuộc tổ dân phố số 8, phường Ngọc Thụy, quận Long Biên, thành phố Hà Nội, tọa lạc bên tả ngạn sông Hồng, cách trung tâm Thủ đô Hà Nội khoảng 6km.
Ngôi chùa không chỉ là nơi thờ Phật mà còn là nơi tưởng niệm danh tướng Lý Thường Kiệt, tên thật là Ngô Tuấn, sinh ra tại làng An Xá. Với công lao giúp dân miễn thuế và chăm lo đời sống, ông được nhân dân kính trọng, tôn làm Thần Thổ địa và lập miếu thờ phụng ngay trong khuôn viên chùa.
Quận Long Biên là một đơn vị hành chính được thành lập ở khu vực Đông Bắc của Thủ đô. Đây là vùng đất giàu truyền thống lịch sử, văn hóa và sở hữu tiềm năng phát triển mạnh mẽ. Người dân Long Biên nổi tiếng với tinh thần yêu nước, truyền thống cách mạng, cùng đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động. Việc thành lập quận Long Biên đánh dấu một bước phát triển quan trọng của Hà Nội trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế từ đầu thế kỷ XXI.
Về vị trí địa lý, quận Long Biên nằm ở vùng phân lưu giữa hai con sông lớn: sông Hồng và sông Đuống. Phía Đông giáp huyện Gia Lâm; phía Tây tiếp giáp các quận Hoàn Kiếm và Hai Bà Trưng; phía Nam giáp huyện Thanh Trì; còn phía Bắc giáp các huyện Đông Anh và Gia Lâm.
Lịch sử và nhân vật
Xưa kia, vào thời Lý, làng An Xá nằm ở phía Nam hồ Dâm Đàm (nay là hồ Tây), khi vua Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long, nhà vua đã ban chiếu di dân từ An Xá ra khu bãi giữa sông Hồng để lấy đất xây dựng kinh thành Thăng Long. Sau sự kiện này, làng An Xá được đổi tên thành làng Cơ Xá.
Đến năm Duy Tân thứ 5 (1911), làng Cơ Xá lại được đổi tên thành làng Phúc Xá. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, làng Phúc Xá trở thành khu Phúc Xá, thuộc Liên khu I của nội thành Hà Nội.
Năm 1957, khu vực làng Phúc Xá cũ được chia tách thành hai thôn: Bắc Biên và Trung Hà, nằm giữa bãi sông Hồng. Đến năm 1961, hai thôn này được sáp nhập cùng các địa danh Bắc Cầu, Yên Tân, Gia Thượng và Gia Quất để hình thành xã Ngọc Thụy, thuộc huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội ngày nay.
Chùa Bắc Biên là một trong những ngôi chùa được xây dựng từ rất sớm để thờ Phật, thuộc phái Tào Động, một trong năm dòng phái chính của Thiền tông. Dựa trên những tư liệu thành văn hiện còn lưu giữ tại chùa, như bia đá và quả chuông đúc dưới triều vua Lê Hiển Tông, niên hiệu Chính Hòa thứ 11 (năm 1690), có thể suy đoán rằng chùa được khởi dựng từ trước thời điểm này.
Một bài văn khắc trên quả chuông đồng có tên “An Xá tự chung”, hiện vẫn được lưu giữ tại chùa, ghi lại những thông tin quý giá về lịch sử ngôi chùa và làng An Xá. Văn chuông chép rằng:
“Chùa An Xá là danh lam cổ tích, trước đây ở Nội điện thành Thăng Long, được vua cho dời ra bãi giữa sông Hồng, dân không có ruộng cấy lúa mà phải lấy nghề trồng dâu nuôi tằm để sinh sống… Hàng năm, thuế về gốc dâu, nhiệm vụ đắp đê, thuế đường, thuế bộ, thuế đò, sưu dịch sai phái đều được miễn trừ… Chỗ đất cũ thì dùng để lập điện của nhà vua, dùng vào việc cúng thờ Phật. Nay được lòng trời mến tựa, đất Tổ truyền phúc sinh vì Ngô Quảng Châu (Ngô Tuấn) hầu hạ thân cận trong cung vua tâu xin sắc chỉ ghi rõ địa giới… đúng như số ruộng đất được miễn thuế bộ truyền lại muôn đời”.
Theo đó, phần đất cũ nơi chùa từng tọa lạc đã được triều đình dùng để lập điện thờ Phật trong Hoàng cung. Nhờ lòng trời mến đạo, đất Tổ sinh phúc, Ngô Quảng Châu (Ngô Tuấn, tức Lý Thường Kiệt), người từng hầu cận trong cung, đã dâng tấu xin vua ban sắc chỉ xác lập địa giới rõ ràng, ghi nhận các thửa ruộng được miễn thuế, truyền mãi cho muôn đời sau.
Trải qua nhiều thế kỷ, chùa đã được trùng tu, tôn tạo qua nhiều thời kỳ, đặc biệt là dưới triều Nguyễn. Năm 2000 nhà chùa tiến hành tu sửa nhà mái Tiền Đường, quy hoạch lại sân vườn và bổ sung thêm một số hoành phi, câu đối, bát hương, nhằm bảo tồn kiến trúc, không gian thờ tự là một trung tâm sinh hoạt văn hoá tâm linh của một cộng đồng dân cư.
Kiến trúc cảnh quan
Chùa Bắc Biên được xây dựng trên một khu đất cao ráo, rộng rãi, nằm giữa khu dân cư của làng. Trước chùa là một ao lớn, thả sen, tạo nên cảnh quan thanh nhã, hài hòa với không gian Phật tự. Khu kiến trúc chính của chùa được bố trí phía trước sân, gồm: Tam Quan, Tam Bảo, Nhà Tổ, Nhà Mẫu, Vườn Tháp tạo thành một quần thể kiến trúc tôn nghiêm, gắn bó với đời sống tín ngưỡng của người dân địa phương.
Tam Quan
Tam Quan được xây dựng theo kiểu tam trụ với mái chồng diêm, gồm ba lối đi riêng biệt, trong đó lối chính giữa có chiều cao và chiều rộng hơn so với hai lối phụ ở hai bên. Phần lối giữa gồm hai tầng mái: tầng dưới được uốn cong tạo thành vòm cung, còn tầng trên xây tường kín với cửa sổ tròn nằm chính giữa, bên trong treo một chiếc chuông đồng. Phía trên tầng mái được xây 1 tầng thấp nhô cao tạo thành một tầng mái nhỏ hơn, trên tường có khắc chữ Hán trang trí.
Hai cột trụ cổng chính có ghi hai câu đối:
“Hùng sơn nhĩ thuỷ danh lam tính
Xá tự Hàm châu cảnh sắc tân”
Các cột trụ của Tam Quan đều được gắn nổi những câu đối bằng chữ Hán, trên đỉnh mỗi cột được trang trí bằng hình chim phượng, đầu chúc xuống, đuôi vểnh lên trên. Màu sắc chủ đạo của công trình là sự kết hợp giữa vàng sẫm, trắng và nâu gụ, mang đến cảm giác ấm cúng, trang nghiêm nhưng vẫn gần gũi và hài hòa.
Tam Bảo
Phía sau Tam Quan là tượng Quan Thế Âm Bồ Tát đứng trên đài sen, được đặt ngay chính diện, tạo điểm nhấn thanh tịnh và linh thiêng khi bước vào không gian thờ tự. Khoảng sân được lát gạch đỏ, hai bên là hàng cây xanh tỏa bóng mát cho công trình.
Tam Bảo có kết cấu theo kiểu chữ Đinh (丁) truyền thống, gồm Tiền Đường và Hậu Cung xây kiểu tường hồi bít đốc, mái lợp ngói ta, giữa bờ nóc đắp cuốn thư khắc nổi ba chữ Hán tên chùa “Phúc Xá tự” (Chùa Phúc Xá).
Tiền Đường gồm 5 gian, với hệ thống bốn hàng cột gỗ tròn vững chãi nâng đỡ mái. Kết cấu vì kèo được làm theo kiểu giá chiêng. Các chi tiết kiến trúc như con rường, xà, kẻ hiên đều được chạm khắc công phu với các họa tiết trang trí sinh động như rồng đuôi xoắn, hoa cúc, cây trúc. Kẻ hiên chạm hình rồng, trúc, tầu mái; các xà ngang chạm khắc hình rồng uyển chuyển, phần phía trên tô điểm bởi các họa tiết hoa lá, cúc, trúc, mai, góp phần làm tăng vẻ đẹp tinh xảo và trang nghiêm cho ngôi chùa.
Gian Hậu Cung gồm ba gian xây nối tiếp về phía sau, gắn kết liền mạch với Tiền Đường, tạo nên bố cục kiến trúc hình chữ Đinh. Hệ thống vì kèo đỡ mái được làm theo kiểu giá chiêng, chồng rường, thể hiện kỹ thuật kết cấu truyền thống. Không gian Hậu Cung được bài trí tượng thờ theo quy chuẩn truyền thống, gồm năm lớp tượng sắp xếp theo thứ tự từ cao – thấp, thể hiện sự trang nghiêm và tôn kính trong nghi lễ thờ tự.
Theo hệ thống từ trên cao xuống gồm:
Lớp tượng thứ nhất, đặt ở vị trí cao nhất trên bệ thờ, là bộ tượng Tam Thế Phật, với tư thế ngồi thiền trên tòa sen, biểu trưng cho ba thời: quá khứ, hiện tại và tương lai.
Lớp thứ hai, là bộ tượng Di Đà Tam tôn với tượng A Di Đà ở giữa, bên phải là tượng Đại Thế Chí Bồ Tát, bên trái là tượng Quan Thế Âm Bồ Tát.
Lớp thứ ba, ở giữa là tượng Di Lặc, bên trái là tượng Văn Thù Bồ Tát, bên phải là tượng Phổ Hiền Bồ Tát.
Lớp thứ tư, chính giữa là tượng vua cha Ngọc Hoàng, hai bên là tượng Nam Tào, Bắc Đẩu.
Lớp thứ năm, là tượng Thích Ca sơ sinh đứng trong tòa Cửu Long, bên trái là tượng công chúa Từ Hoa và chúa Tằm có công dạy dân nơi đây trồng dâu nuôi tằm dệt lụa.
Bên trái nhà Tiền đường đặt tượng Thánh Hiền và ban thờ ngai bài vị Lý Thường Kiệt, bên phải là tượng Đức Ông.
Không gian bên trong các gian được bài trí công phu với hệ thống cửa võng chạm lộng tinh xảo, thể hiện các đề tài truyền thống mang đậm dấu ấn văn hóa tín ngưỡng. Trên các vách và cột treo câu đối, hoành phi sơn son thếp vàng, cùng với các bộ đồ thờ được sắp đặt trang nghiêm, góp phần tôn lên vẻ cổ kính và linh thiêng của nội thất chùa.
Nhà Tổ
Nhà thờ Tổ được xây dựng tiếp giáp với Tam Bảo, gồm 5 gian theo kiểu tường hồi bít đốc, mái lợp ngói ta truyền thống. Kết cấu vì kèo đỡ mái được làm theo kiểu “chồng rường”, nền nhà lát gạch vuông tạo sự vững chắc và hài hòa. Bên trong, ba gian giữa là nơi thờ các vị Tổ sư của chùa, hai gian bên được sử dụng làm nơi sinh hoạt cho các vị trụ trì.
Vườn Tháp
Bên trái chùa là khu vườn tháp mộ, nơi đặt ba ngôi tháp được xây dựng theo lối kiến trúc truyền thống, mỗi tháp gồm ba tầng thu nhỏ dần về phía đỉnh. Đây là nơi an trí xá lợi của các vị Tổ sư từng tu hành và trụ trì tại chùa, thể hiện sự tôn kính đối với tiền nhân và góp phần tạo nên không gian linh thiêng, thanh tịnh trong khuôn viên chùa.
Di vật
Hiện nay, chùa vẫn lưu giữ được một bộ sưu tập di vật văn hóa đa dạng về chất liệu và loại hình, có giá trị nghệ thuật tiêu biểu từ thế kỷ XVIII – XIX.
- Nổi bật trong đó là bộ tượng tròn gồm 36 pho, được chế tác hết sức công phu và tinh xảo, phủ thếp vàng rực rỡ. Các tượng mang đậm tính chân dung, thể hiện rõ thần thái và phong cách điêu khắc đặc trưng của từng thời kỳ.
- Ba tấm bia đá có niên đại thời Nguyễn, ghi chép việc trùng tu chùa và lập hậu gửi giỗ, phản ánh sinh hoạt tín ngưỡng và công tác bảo tồn di tích qua các thời kỳ. Bên cạnh đó, chùa lưu giữ ba quả chuông đồng, trong đó có một quả chuông lớn cao 1,2 mét, đường kính miệng 60cm, được đúc vào năm Chính Hòa thứ 11 (1690). Bài minh văn khắc trên chuông không chỉ xác định ranh giới địa lý của làng Cơ Xá xưa mà còn ghi nhận công đức to lớn của danh tướng Lý Thường Kiệt đối với quê hương.
- 11 đôi câu đối và 15 bức đại tự, phần lớn đều ca ngợi vẻ đẹp thanh tịnh, linh thiêng của chốn thiền môn và bày tỏ lòng thành kính với Phật pháp. Đặc biệt, có một đôi câu đối nổi bật tôn vinh công lao của danh tướng Lý Thường Kiệt và quê hương Cơ Xá:
Phạt Tống, bình Chiêm, phò Lý tổ,
Tý dân hộ quốc hiển làng Cơ.
Tạm dịch:
Đánh Tống, bình Chiêm, phò nghiệp Lý,
Giúp dân cứu nước, rạng làng Cơ.
Câu đối không chỉ thể hiện lòng ngưỡng vọng đối với vị anh hùng dân tộc mà còn khẳng định niềm tự hào của nhân dân Cơ Xá đối với truyền thống yêu nước của quê hương.
Xếp hạng
Chùa Bắc Biên đã được Bộ Văn hoá và Thông tin xếp hạng di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật năm 1989.
Hình ảnh:









Tài liệu tham khảo
- Lưu Minh Trị (2011), Hà Nội Danh thắng và Di tích, tập 2, Nxb Hà Nội
- Lịch sử đảng bộ quận Long Biên (2003-2013), Nxb Chính trị – Hành chính (2013).
- Cổng thông tin điện tử phường Ngọc Thuỵ










