Năm 1068, vua Lý Thánh Tông bàn với đình thần: nhà Tống ở phương Bắc đang tìm cách liên kết với Chiêm Thành ở phương Nam để kẹp nước ta vào thế giữa. Muốn không bị đánh từ hai phía thì phải bình Chiêm trước. Cả triều thần đều đồng ý.
Để nắm chắc tình hình, Lý Thường Kiệt cho người giả làm ngư dân đánh cá đi dọc ven biển dò xét cách bố trí binh lực của Chiêm, nhất là lực lượng thủy binh.
Tin họ đưa về rất lạ: Ở cửa Di Luân, ở cửa Bố Chính, tuyệt không thấy bóng chiến thuyền nào, chỉ có thuyền chài thả lưới như mọi ngày. Nhưng đến cửa Nhật Lệ thì thủy quân Chiêm lại tập trung dày đặc.
Đặt các tin ấy cạnh nhau thì ý đồ của đối phương hiện ra: Chiêm Thành bỏ ngỏ các cửa biển bên ngoài, dồn toàn bộ thủy quân về Nhật Lệ để chặn đường tiến của quân ta, còn đại quân thì cố thủ quanh kinh đô Chà Bàn. Đối phương đã chọn sẵn nơi giao chiến. Ngài nhận rõ mưu đồ ấy và vạch sẵn kế sách ứng đối.
Ngày mười tám tháng ba năm 1069, đại quân Đại Việt vượt cửa Nam Giới, lướt nhanh qua cửa Di Luân, Bố Chính rồi tiến thẳng tới Nhật Lệ. Vào đến hải phận Chiêm mà vẫn chưa gặp cản trở gì, ngài lại sai thám tử dò kỹ lần nữa xem có phục binh không — vẫn tính cẩn trọng vốn có. Không có phục binh, ngài cho thủy quân dàn thế trận ngay trước cửa Nhật Lệ.
Sáng sớm ngày hai mươi ba, chiến thuyền Chiêm xông ra chặn đánh. Quân Chiêm thông thuộc vùng biển của mình nên đánh trả vô cùng xông xáo. Nhưng quân ta lại đánh theo đúng kế hoạch đã vạch sẵn: chia cắt đội hình địch, rồi nhắm vào người lái thuyền và người chỉ huy mà bắn. Khi chủ tướng Chiêm trúng tên, đội thuyền mất người cầm lái liền rối loạn, thuyền nọ đâm vào thuyền kia mà chìm.
Đại quân tiến tiếp xuống phía nam, đổ bộ đánh vào kinh đô. Bên bờ sông Tu Mao – con sông chắn đường vào Chà Bàn, tướng Chiêm là Bô-bi-đà-la đã dàn sẵn thế trận. Quân ta xô tới giáp chiến, chém được Bô-bi-đà-la tại trận; lục quân Chiêm cũng tan vỡ hoàn toàn.
Nghe tin thua trận, vua Chiêm là Chế Củ ngay trong đêm đem vợ con bỏ kinh thành tháo chạy. Quân Đại Việt ráo riết đuổi theo và bắt được Chế Củ.
Đoàn quân trở về Thăng Long trong tiếng chiêng trống khải hoàn. Vua Lý Thánh Tông ngồi trên chiếc Ngự long xa nạm ngọc, các quan văn võ từ Thái sư Lý Đạo Thành trở xuống đều cưỡi ngựa. Nguyên soái Lý Thường Kiệt cưỡi một con ngựa hồng, oai phong dẫn đầu đại quân. Theo sau là đoàn tù binh, đi đầu là Chế Củ "đội mũ bằng xương gai, mặc áo vải thô trắng, lấy lụa thắt lưng, có năm lính Vũ đô dắt đi".
Chế Củ xin dâng ba châu Địa Lý, Ma Linh, Bố Chính để chuộc tội. Vua Lý bằng lòng, tha cho Chế Củ cùng toàn bộ tù binh về nước. Vâng mệnh vua, Lý Thường Kiệt cho thuyền bè, lương thực cùng các nhu yếu phẩm, sai quân Vũ Đô hộ tống Chế Củ và đoàn tùy tùng về tận quê nhà
Cả đi lẫn về, đoàn quân bình Chiêm mất bốn tháng chín ngày, sớm hơn dự kiến hai mươi ngày.
Vua ban cho ngài nhiều tước vị cao quý, lại nhận ngài làm con nuôi, ban danh xưng Thiên tử nghĩa nam.
Năm ấy ngài năm mươi mốt tuổi. Cậu bé ngoài bãi dâu năm nào chỉ xin lấy được ấn phong hầu để làm vẻ vang cho cha mẹ. Vậy mà cha ngài đã nằm lại nơi biên ải Thanh Hóa từ khi ngài mười ba, mẹ ngài mất khi ngài mười tám. Không ai kịp nhìn thấy con ngựa hồng đi đầu đoàn quân khải hoàn hôm ấy…
Ba năm sau ngày chiến thắng, vua Lý Thánh Tông băng hà. Ngai vàng trao lạicho một vị vua bảy tuổi.
Loạt bài được viết dựa trên cuốn sách "Lý Thường Kiệt — Con người và sự nghiệp" của cụ Nguyễn Minh Tiến, xuất bản năm 1989; sự tích và gia phả của làng; minh văn chuông An Xá; hồ sơ Bảo vật quốc gia về chuông chùa Bắc Biên; Tây Hồ chí; cùng các tư liệu và ký ức địa phương. Đây là tác phẩm kể chuyện lịch sử – văn hóa từ góc nhìn của một người Phúc Xá – Bắc Biên, không phải công trình sử học chuyên khảo. Những chi tiết còn có dị bản hoặc chưa đủ căn cứ sẽ tiếp tục được đối chiếu, bổ sung.
"Quy hoạch Thủ đô tầm nhìn 100 năm, suy cho cùng, không hẳn là xây thêm bao nhiêu cây cầu, bao nhiêu đại lộ hay bao nhiêu khu đô thị mới. Điều quan trọng hơn là chúng ta muốn trao lại cho thế hệ sau m
Năm 1038, Ngô Tuấn mãn tang mẹ, cũng vừa tròn khóa học ở Bái Ân. Ông Tạ Đức thu xếp cho cháu lấy vợ. Người vợ tên là Thuần Khanh. Sau những năm liên tiếp mất cha rồi mất mẹ, cuộc sống riêng của chàng