Năm 1038, Ngô Tuấn mãn tang mẹ, cũng vừa tròn khóa học ở Bái Ân. Ông Tạ Đức thu xếp cho cháu lấy vợ. Người vợ tên là Thuần Khanh. Sau những năm liên tiếp mất cha rồi mất mẹ, cuộc sống riêng của chàng trai ngoài bãi dâu tưởng như từ đây mới bắt đầu yên ổn.
Năm sau, vừa tròn hai mươi mốt tuổi, ngài xin vào đội kỵ binh của nhà vua, giữ chức Kỵ mã Hiệu úy. Cũng từ năm ấy, ngài chọn cho mình một tên tự: Thường Kiệt. Chữ Hán viết là 常傑 — Thường là luôn luôn, Kiệt là hơn người.
Ba năm sau, vua Lý Thái Tông vời ngài vào cung, đưa vào ngạch thị vệ hầu cận. Khi ấy ngài đã có gia đình. Về việc ngài trở thành hoạn quan, các tài liệu ghi khác nhau; chỉ biết từ lần được triệu vào cung ấy, cuộc đời ngài đã rẽ sang một con đường hoàn toàn khác
Ngài lần lượt giữ các chức vụ trong Hoàng môn sảnh rồi Trung thư sảnh, sau được phong Đình úy sứ coi việc hình án. Hằng ngày ngài ở bên vua, hiến việc tốt, can việc xấu, dốc lòng giúp vua trị quốc.
Được tin dùng nhưng ngài không cậy thế ỷ quyền, chẳng nhân chức vị để mưu lợi riêng, bởi thế mà ngài được các quan trong triều một lòng kính trọng, quý mến. Sau hơn mười năm hầu cận, vua ban cho ngài quốc tính. Từ đó cái tên xuất hiện trong sử sách là Lý Thường Kiệt. Còn người làng tôi bây giờ, khi kể về ngài, chỉ gọi bằng hai chữ giản dị: cụ Lý.
Hơn mười năm trôi qua, vị thế ngày nay đã đưa ngài vượt xa khỏi hình ảnh cậu bé Ngô Tuấn bên bãi dâu năm nào. Thế nhưng có một việc vẫn còn dang dở từ trước ngày ngài rời làng vào chốn kinh kỳ: Dải bãi vua cấp cho An Xá mới chỉ được xác định trong phạm vi rộng. Ranh giới đông, tây, nam, bắc chưa được ghi rõ, đất làng cũng chưa có đủ căn cứ trong sổ điền của triều đình. Mà đất giữa sông thì nay bồi mai lở, năm nay còn, năm sau đã mất đi một góc.
Lý Thường Kiệt tâu xin vua ban sắc chỉ, xác định rõ địa giới bốn phía của đất An Xá để ghi vào sổ điền, đồng thời miễn cho dân làng các khoản thuế và phu phen tạp dịch. Việc lớn còn dang dở từ ngày làng rời đất tổ đến đây mới thật sự xong. Mảnh bãi giữa sông đã có ranh giới rõ ràng. Tên đất đã có trong sổ sách của triều đình. Con cháu đời sau nhờ đó mà có căn cứ mà giữ đất làng.
Dân An Xá nhớ ơn sâu ấy, tôn ngài là Tổ địa — người đã giúp làng xác lập và gìn giữ đất đai.
Tổ địa - Hai chữ ấy làng tôi kính cẩn gọi đến tận bây giờ.
Trong cung, ngài đã mang một cái tên mới. Với làng, ngài cũng có thêm một tên gọi khác.
Thế nhưng, việc đưa danh tiếng Lý Thường Kiệt vượt ra khỏi chốn hoàng cung và quê nhàlại không bắt đầu từ một trận đánh. Nó bắt đầu từ một cuộc bình loạn ở đất Thanh Hóa.— Làng Phúc Xá, quê hương Lý Thường Kiệt
Loạt bài được viết dựa trên cuốn sách "Lý Thường Kiệt — Con người và sự nghiệp" của cụ Nguyễn Minh Tiến, xuất bản năm 1989; sự tích và gia phả của làng; minh văn chuông An Xá; hồ sơ Bảo vật quốc gia về chuông chùa Bắc Biên; Tây Hồ chí; cùng các tư liệu và ký ức địa phương. Đây là tác phẩm kể chuyện lịch sử – văn hóa từ góc nhìn của một người Phúc Xá – Bắc Biên, không phải công trình sử học chuyên khảo. Những chi tiết còn có dị bản hoặc chưa đủ căn cứ sẽ tiếp tục được đối chiếu, bổ sung.
Trong suốt nhiều năm, thân nhân các chiến sĩ Đội liên lạc Nguyễn Ngọc Nại vẫn nghĩ rằng hài cốt của tám liệt sĩ đã hòa vào đất và phù sa Tàm Xá sau trận chiến ngày 19/2/1947.
Sáng ngày 20/7, Thầy chùa Phúc Xá, lãnh đạo Tổ dân phố 34 cùng nhà hảo tâm (cô Mai) đã phát tâm công đức lắp đặt 06 cột đèn năng lượng mặt trời tại khu vực Nhà bia Liệt sĩ, thuộc quần thể di tích Đình
Hằng năm, cứ đến ngày 27/7, người dân quê hương Bắc Biên cùng thân nhân các liệt sĩ lại hướng về Nghĩa trang liệt sĩ xã Xuân Canh để tưởng nhớ tám chiến sĩ Đội liên lạc Nguyễn Ngọc Nại. Dẫu quê hương