CỤ LÝ LÀNG TÔI. KỲ 7 — BỐN MẨU TIN VÀ MỘT CÁI BẪY

3 tháng 8, 2026

Năm 1074, nhìn từ Thăng Long, nước Đại Việt vẫn yên. Ngoài chợ vẫn có kẻ mua người bán, trên sông thuyền bè vẫn ngược xuôi. Nhưng mấy năm ấy, từ bên kia biên giới, những mẩu tin rời rạc lần lượt được đưa về.

 
Mẩu thứ nhất mới chỉ là một ý định. Năm 1067, Tống Thần Tông lên ngôi - một ông vua trẻ và chủ chiến. Năm 1069, Vương An Thạch làm tể tướng. Đến năm 1072, hay tin vua Lý Thánh Tông mất, thái tử mới bảy tuổi nối ngôi, Vương An Thạch bàn với các quan trong triều Tống: "Nhân lúc Càn Đức mới lập, ta chỉ cần hai vạn tinh binh là xong việc."
Càn Đức là vua Lý Nhân Tông. Nhà Tống nhìn vào vị vua mới bảy tuổi ấy cho rằng Đại Việt đang ở thế yếu. Chỉ cần hai vạn tinh binh, theo tính toán của Vương An Thạch là đủ để đánh chiếm.
Mẩu thứ hai cho thấy sự tự tin. Có kẻ tâu với quan Tống: "Giao Chỉ bị thua ở Chiêm Thành, quân không còn nổi một vạn, có thể tính ngày lấy được." Chiến thắng bình Chiêm năm 1069 của ta sang đến tai người Tống lại hóa ra thế. Viên quan coi Quế Châu bấy giờ là Tiêu Chú dè dặt cho rằng Đại Việt nay đã khác, liền bị bãi chức. Vua Tống không hài lòng, thay ông ta bằng Thẩm Khởi -kẻ tuyên bố quả quyết: "Giao Chỉ là đồ hèn mọn, không lý gì không lấy được." Đó là tháng hai năm 1073. Kẻ dè dặt nhường chỗ cho kẻ cuồng ngôn. Ý định đã có người thực thi
Mẩu thứ ba đến vào cuối năm 1073. Thẩm Khởi dùng mưu dụ dỗ, mua chuộc một số tù trưởng ở miền núi và biên giới. Nùng Thiện Mỹ ở châu Ân Tình mang cả bộ hạ sang theo Tống. Lưu Kỷ ở châu Quảng Nguyên cũng bị lôi kéo, chỉ vì vua Tống còn phân vân sợ ta phản ứng mạnh nên chưa cho làm.
Đến đây thì nhà Tống không còn chỉ tính đường tiến quân. Họ đang tìm kẻ dẫn đường và đã tìm được ở ngay trong lòng Đại Việt.
Mẩu thứ tư đến vào năm 1074. Thẩm Khởi làm quá lộ liễu khiến dân các châu oán giận nên tháng ba năm ấy bị bãi chức; người sang thay là Lưu Di. Việc bãi chức không có nghĩa là lui quân mà là chọn người làm được việc hơn. Tháng sáu năm đó, Lưu Di cho người vào các khê động kiểm điểm thổ dân, luyện quân, đóng chiến thuyền lại trưng dụng cả thuyền chở muối của dân ven biển để tập thủy chiến, rồi ban lệnh cấm người nước ta sang đất Tống buôn bán.Lệnh cấm ấy khiến những dấu hiệu trước đó trở nên đáng sợ hơn bao giờ hết. Nó không nhằm vào chuyện bán mua mà cấm là để tránh sự dò xét của ta.
Từng mẩu tin rời rạc chưa nói lên điều gì nhưng khi ghép lại thì bức tranh chiến tranh đã hiện rõ: Sát biên giới đã có sẵn kho bãi, quân lương. Trên sông chiến thuyền đang đóng, thủy quân đang luyện. Trong các châu động, nội ứng đã sẵn sàng.. Còn đường dò xét của ta thì vừa bị chặn đứng.
Gọng kìm phía nam đã bị ta bẻ gãy năm 1069. Nhưng thứ đang dựng lên ở phía bắc không phải gọng kìm mà là một cái bẫy: đối phương áp sát biên giới, có người của ta dẫn đường, còn ta thì hoàn toàn bị bịt mắt.
Đầu năm 1075, Lý Thường Kiệt khuyên vua viết thư sang đòi Nùng Thiện Mỹ, nói rõ y vốn là người châu Định Biên đất ta, mạo đổi tên mà trốn sang. Vua Tống hứa xét rồi im lặng. Vua viết lá thư thứ hai đòi số dân đã chạy theo y. Lưu Di không chịu chuyển thư về triều đình Tống.
Không trả người. Không trả lời. Đến lá thư cũng không chuyển đi.Đường ngoại giao chính thức khép lại.
Đến đây thì chỉ còn hai lựa chọn:
Ngồi yên nhường toàn bộ chủ động cho nhà Tống - chọn ngày đánh, chọn đường tiến quân và chọn nơi giao chiến. Hoặc đánh trước đem quân vượt biên giới đối đầu với một đế quốc lớn hơn mình rất nhiều giữa lúc vua ta mới lên mười và triều đình vừa qua một cơn rối ren.
Lý Thường Kiệt chọn lối thứ hai. Ý ngài đã rõ: một đạo quân lớn mà bất ngờ bị đánh, chịu thiệt hại nặng ngay trên đất mình, thì đến khi kéo sang Đại Việt, nhuệ khí cũng không còn được bao nhiêu. Chủ trương ấy gọi là tiên phát chế nhân — ra tay trước để chế ngự người. Triều đình đồng thuận. Vua hạ lệnh ban ra.
Lệnh trưng binh phát ra cả nước. Lương thực trưng mua rồi chứa vào các mễ sở dựng ở những nơi thuận tiện. Ngoài lương thảo và vũ khí, ngài ra lệnh sắm đủ quần áo ấm cho binh sĩ để đánh được cả trong mùa đông giá lạnh, chuẩn bị sẵn thuốc men chữa bệnh dùng từ lúc luyện tập cho đến khi ra trận.
Áo ấm và thuốc men — ngài đã tính đến một chiến dịch dài ngày giữa mùa đông lạnh giá trên đất người.
Tháng chín năm Ất Mão (1075), lệnh tấn công được ban. Ngày rằm tháng đó, bảy trăm quân từ châu Tô Mậu vượt biên giới, đánh vào trại Cổ Vạn. Bảy trăm người mở đầu cho mười vạn đại quân.
Nhưng đi trước mười vạn quân ấy không phải giáo mác…
(Kỳ sau: Quân của người cha họ Lý)
— Làng Phúc Xá, quê hương Lý Thường Kiệt
Xem Mục lục: https://www.facebook.com/share/p/19F6xo8EEG/
Xem kỳ 6: https://www.facebook.com/share/p/1EzbiC7d55/
----------------------------------
Loạt bài được viết dựa trên cuốn sách "Lý Thường Kiệt — Con người và sự nghiệp" của cụ Nguyễn Minh Tiến, xuất bản năm 1989; sự tích và gia phả của làng; minh văn chuông An Xá; hồ sơ Bảo vật quốc gia về chuông chùa Bắc Biên; Tây Hồ chí; cùng các tư liệu và ký ức địa phương. Đây là tác phẩm kể chuyện lịch sử – văn hóa từ góc nhìn của một người Phúc Xá – Bắc Biên, không phải công trình sử học chuyên khảo. Những chi tiết còn có dị bản hoặc chưa đủ căn cứ sẽ tiếp tục được đối chiếu, bổ sung.

NguồnFacebook Làng Bắc Biên - Quê hương Thái Úy Lý Thường Kiệt

← Xem mục liên quan trên trang chủ