Đi trước mười vạn đại quân ấy không phải là giáo mác mà là bài Lộ bố - một bài hịch hành quân được yết khắp dọc đường khi đại quân Đại Việt tiến sâu vào đất Tống đầu năm 1076, nhằm hướng châu Ung.
Bài hịch viết ra để an dân, để thuyết phục chính dân Tống ủng hộ cuộc hành quân này. Bài hịch khẳng định quân sang đây là để "dẹp làn sóng yêu nghiệt", để "cứu vớt muôn dân khỏi nơi chìm đắm", đồng thời vạch trần sự phi nghĩa trong chính sách của vua Tống và tể tướng Vương An Thạch - những chính sách đang làm dân Tống khốn khổ.
Sách chép rằng ở một số nơi, dân địa phương đã đem hương án, rượu thịt ra đón đoàn quân Đại Việt và gọi đó là “quân của người cha họ Lý”.
Từ châu Khâm đến châu Ung phải hai trăm dặm đường, vậy mà châu Khâm hạ ngày 30 tháng 12 năm 1075, châu Liêm hạ ngày 2 tháng 1 năm 1076, đến ngày 18 tháng 1 đại quân đã áp sát vây chặt thành Ung. Đi nhanh được thế một phần vì suốt dọc đường đoàn quân không phải đi giữa những người dân coi mình là giặc.
Ung Châu không phải một tòa thành thường. Nó là một chiến thành đồ sộ: thành cao, hào sâu, quân đông, lương đầy kho. Triều đình nhà Tống tin rằng quân ta không thể phá nổi — chính Vương An Thạch cũng tin thế. Tướng giữ thành là Tô Giám, một danh tướng lão luyện, đóng chặt cửa thành cố thủ, chờ viện binh.
Viện binh đến thật. Được tin đạo quân của Trương Thủ Tiết đã tới ải Côn Lôn, Lý Thường Kiệt giao cho Tông Đản tiếp tục siết chặt vòng vây, còn ngài trực tiếp dẫn một nhánh quân đi đón đánh. Trận ấy Trương Thủ Tiết tử trận, viện binh tan. Từ thời điểm đó thành Ung hoàn toàn đơn độc.
Nhưng Ung Châu vẫn đóng chặt cửa thành, quyết không khuất phục. Ngài cho gọi loa báo tin viện binh đã bị diệt, kêu gọi quân trong thành ra hàng để được bảo toàn tính mạng — Tô Giám tuyệt đối không hàng. Quân ta bắc thang tre trèo lên, trong thành bắn tên lửa đốt thang. Quân ta đào hầm ngầm dưới chân thành, trong thành lại dùng lửa đốt hầm. Sử Tống chép rằng quân ta mất đến một vạn rưỡi người dưới chân thành ấy. Thành bị vây ngót một tháng, bên trong bắt đầu cạn lương, thiếu nước; ngài lại kêu gọi ra hàng lần nữa. Tô Giám vẫn không hàng, còn ra lệnh: kẻ nào hàng sẽ chém.
Rồi cách phá thành đến từ một việc không ngờ: một hàng binh Tống mách dùng thang đất. Lý Thường Kiệt tính lại thấy đúng — lửa đốt được thang tre, đốt được da thú nhưng không thể đốt được đất. Ngài cho quân dồn đất vào bao, chồng áp sát vào bốn mặt thành tạo thành những bậc thang đất, rồi bốn mặt cùng lúc ào lên. Thành vỡ ngày 1 tháng 3 năm 1076, sau bốn mươi hai ngày đêm vây hãm nghẹt thở. Tô Giám không hàng đến phút cuối: khi thành vỡ, ông ta giết cả gia quyến rồi tự thiêu.
Phá xong căn cứ Ung Châu, ngài không giữ. Ngài sai san phẳng thành lũy, lấy đá lấp sông chặn đường di chuyển của quân Tống, cài người ở lại dò tin rồi chủ động lui binh. Ba châu đã hạ, đường vào đất Tống đã rộng mở. Nhưng cuộc tiến công này đánh để phá, không đánh để chiếm. Quân rút về, không một đạo quân Tống nào dám bám theo đuổi bắt.
Nhà Tống dĩ nhiên không từ bỏ. Cuối năm ấy, đại quân Tống do Quách Quỳ chỉ huy tràn qua biên giới, tiến về phía sông Cầu. Đi cùng họ theo kế hoạch đáng lẽ phải có một đạo thủy quân chở phương tiện vượt sông và tiếp viện lương thảo.
Loạt bài được viết dựa trên cuốn sách "Lý Thường Kiệt — Con người và sự nghiệp" của cụ Nguyễn Minh Tiến, xuất bản năm 1989; sự tích và gia phả của làng; minh văn chuông An Xá; hồ sơ Bảo vật quốc gia về chuông chùa Bắc Biên; Tây Hồ chí; cùng các tư liệu và ký ức địa phương. Đây là tác phẩm kể chuyện lịch sử – văn hóa từ góc nhìn của một người Phúc Xá – Bắc Biên, không phải công trình sử học chuyên khảo. Những chi tiết còn có dị bản hoặc chưa đủ căn cứ sẽ tiếp tục được đối chiếu, bổ sung.
Năm 1074, nhìn từ Thăng Long, nước Đại Việt vẫn yên. Ngoài chợ vẫn có kẻ mua người bán, trên sông thuyền bè vẫn ngược xuôi. Nhưng mấy năm ấy, từ bên kia biên giới, những mẩu tin rời rạc lần lượt được
"Quy hoạch Thủ đô tầm nhìn 100 năm, suy cho cùng, không hẳn là xây thêm bao nhiêu cây cầu, bao nhiêu đại lộ hay bao nhiêu khu đô thị mới. Điều quan trọng hơn là chúng ta muốn trao lại cho thế hệ sau m
Năm 1068, vua Lý Thánh Tông bàn với đình thần: nhà Tống ở phương Bắc đang tìm cách liên kết với Chiêm Thành ở phương Nam để kẹp nước ta vào thế giữa. Muốn không bị đánh từ hai phía thì phải bình Chiêm