Bắc Biên: Có làng rất xưa mang tâm tình người Kẻ Chợ
18 tháng 6, 2026
Ghé thăm làng Bắc Biên (phường Bồ Đề, Hà Nội) để hiểu hơn về mảnh đất Thăng Long xưa – Hà Nội nay. Bên cạnh một Hà Nội của phố xưa nhà cổ, còn có một Hà Nội khác, Hà Nội của những “đất lề quê thói”, mang tâm tình của con người mảnh đất ngàn năm văn hiến.
Lòng xốn xang khi “gặp” làng trong phố
Lần đầu tiên đến Bắc Biên, tôi đã cảm thấy ngạc nhiên: hóa ra giữa lòng Hà Nội lại có một không gian thôn quê đặc trưng đến vậy. Những khung cảnh quen thuộc của một ngôi làng Bắc Bộ điển hình bỗng hiện ra trước mắt. Từ chiếc cổng quê đến cây đa đầu làng, từ chiếc sân làng gạch đỏ đến những mái đình, mái chùa uy nghiêm. Xung quanh là những khoảng nước, hàng cây xanh đan xen tạo nên một không gian thoáng, mát giữa những trưa hè tháng 6 oi bức.
Nhìn thoáng qua, ngôi làng này chẳng khác là bao so với hàng ngàn ngôi làng trên mảnh đất Bắc Bộ. Nhưng điều khiến nó đặc biệt hơn, có lẽ là cảm giác yên ả mỗi khi khách ghé thăm. Làng nằm ngay bên con sông Hồng và ngay sát phố cổ, nên cảm giác bước từ phố nhộn nhịp sang đây không khác gì bước vào một ốc đảo xanh, tránh cái nắng nóng, ồn ào và xô bồ của thành thị. Thú vị hơn, trong cái ốc đảo quê đó còn chứa đựng bao câu chuyện lịch sử từ vùng đất đến con người Bắc Biên.
Làng ở Bắc Biên nhưng lòng người lại ở An Xá
Nằm ở phía tả ngạn sông Hồng và cách phố cổ chưa đến 15 phút lái xe, làng Bắc Biên (thuộc phường Bồ Đề, Hà Nội) là một trong những làng cổ xưa của thủ đô. Dù lấy tên gọi hành chính là làng Phúc Xá, nhưng cư dân khu vực vẫn gọi làng bằng tên địa danh thôn cũ: làng Bắc Biên. Với người dân làng, ngoài tên gọi Phúc Xá, Bắc Biên, họ cảm thấy thân quen hơn với tên An Xá. Dẫu đình hay chùa làng thì họ vẫn gọi theo tên An Xá. Đi tìm lý giải cho điều này, tôi tìm gặp cụ Hải, một trong những bô lão của làng.
Cụ Hải nay đã 87 tuổi, mái tóc đã bạc phơ nhưng trí nhớ vẫn rất minh mẫn. Trong nhiều năm, cụ là chủ tế trong những dịp lễ, hội của làng. Giờ đây, khi đã rời chức vụ chủ tế, cụ lại làm một nhiệm vụ mới: “kho sử” sống của Bắc Biên. Theo chân cụ, tôi bước vào “trái tim” của làng An Xá: Đình làng. Trong đình có một báu vật được công nhận là bảo vật quốc gia vào đầu năm 2026. Đó là chiếc chuông đồng cổ – “An Xá tự chung” – đúc năm 1690 (thời vua Lê Hy Tông) có bài minh ghi lại tích của làng, trong đó có đoạn viết “Ấp ta xưa nằm tại khu xây dựng nội điện thành Thăng Long nên Vua Lý Thái Tổ dời ấp để lấy chỗ xây dựng kinh đô’”. Ấp đó chính là làng An Xá cổ xưa (nằm ở gần chùa Một Cột ngày nay).
Khi xưa, tuân theo lệnh vua, dân làng An Xá chuyển ra vùng bãi nằm dọc sông Hồng, với địa dư rất rộng. Trong dòng người di cư đó có cụm dân đi sang Bắc Biên, mảnh đất bãi lở bãi bồi nằm bên kia sông Hồng, về phía Bắc Ninh, giáp làng Gia Quất. Không ruộng lúa, không đất ổn định, họ sống bằng nghề trồng dâu nuôi tằm trên những bãi cát giữa dòng sông. Thái Uý Việt Quốc công Lý Thường Kiệt, người con An Xá có công đánh giặc giữ nước, đã xin vua miễn sưu thuế cho làng – một ân huệ được ghi lại qua các triều đại và khắc thành chữ vĩnh cửu lên thân chuông đồng. Sau này cụ Lý Thường Kiệt được người dân An Xá thờ phụng trong đình.
Dù có rời thành Thăng Long, nhưng người An Xá cũng vẫn không quên gốc gác làng xưa. Họ giữ lại tinh thần của làng không chỉ bằng nếp sống, phong tục làng mà còn bằng cả đời sống tinh thần giàu có. Khi về mảnh đất An Xá – Bắc Biên, họ dựng lại đình, chùa xưa và mang những vị thành hoàng làng về thờ.
Chiếc chuông đồng trên 300 tuổi, ghi sử bằng chữ Hán, vẫn hiện diện ở đó. Cách đó không xa là một chiếc bia, được dựng mới hơn (dựng năm 1935), khắc sử làng bằng chữ Hán-Nôm và chữ Quốc ngữ. Cụ Hải nói với tôi, mấy lần đế quốc Pháp ném bom làng mà bia không bị phá. Cuốn hương ước của làng cũng vẫn được truyền lại nguyên vẹn. Và điều quan trọng hơn cả những văn bản, những nét khắc vật chất là những khắc cốt ghi tâm trong lòng người.
Từ già đến trẻ đều nhắc đến ngôi làng xưa bên bờ sông Hồng trong những buổi hội làng hay khi trò chuyện với du khách phương xa. Làng có hai ngày hội lớn, một là Ngày hội làng tháng 3 âm lịch, một ngày giỗ của cụ Lý Thường Kiệt vào mùng 2/6 âm lịch. Lễ hội diễn ra trong đình và sân đình, có khi đến 200 mâm cỗ. Bạn tôi, một con dân làng An Xá, nhớ lại không khí rộn ràng ở đình và cả thời tuổi thơ, những mùa hè sinh hoạt trong đình.
Đình An Xá vì thế không hề xa cách với cả người lớn hay những đứa trẻ nơi đây, nó trở thành một nếp sinh hoạt. Giữa một Hà Nội thay đổi từng ngày, vẫn có những nếp làng, hồn quê được giữ nguyên vẹn, không chỉ bởi những hiện hữu mang tính vật chất như một ngôi đình, ngôi chùa, bóng cây đa… mà còn bởi những hiện hữu tinh thần trong nếp sống của chính con người.
Tình làng trong phố
Cứ độ đầu tháng 6 là rặng tường vi lại đỏ rực trên con đường vào làng Bắc Biên. Bên dãy tường vi đó là cây nhãn cổ đã 100 tuổi, xa hơn là cây đa “có thần” đứng đó uy nghi tỏa bóng mát như chỗ trú chân trong những ngày hè nắng gắt.
Cô hàng xén bán trà đá bên dưới gốc cây đa, thỉnh thoảng lại đưa chuyện với khách. Hàng sân gạch đỏ đối diện với đình là khoảng sân chơi cho lũ trẻ mùa hè, có một cái hồ nhỏ giữa sân gạch. Lũ trẻ và người dân có thể đi bộ một cách thảnh thơi vì khu vực này cấm ô tô. Đối diện hồ là đình, mà cạnh đình là chùa. Đi sâu vào trong làng là những con đường ngoằn ngoèo như bất kỳ ngôi làng Việt nào, có khác là đây là đường nhựa và nhà dân thì khang trang, hiện đại và rất quy củ. Thỉnh thoảng có những vị khách Tây đạp xe bên phố sang để hiểu thế nào là làng bên phố rồi chụp những bức ảnh đình chùa.
Vào sâu trong làng có vài hàng quán nhỏ, chỉ là vài cốc bia, vài món nhậu dành cho người dân lai rai.
Cụ Hải vừa chạm vào những đường gân trên cây nhãn cổ đầu làng, vừa kể tôi nghe chuyện những ngày xưa cũ, như thể tuổi thơ mới chỉ là ngày hôm qua. Rồi cụ kể về thời gian cụ làm chủ tế của làng, những dấu mốc lịch sử một cách rành mạch. Ví như bức tượng đồng cụ Lý Thường Kiệt được đặt vào đình từ năm 2006 và được nhà sử học Dương Trung Quốc nghiên cứu, thiết kế cẩn thận như thế nào. Rồi họa tiết gỗ trên các kèo, cột của đình được các nghệ nhân làng gỗ làm như thế nào? Và không chỉ là một “kho sử” sống kể những câu chuyện của làng An Xá – Bắc Biên, cụ còn là “kho kinh nghiệm” dạy con cháu về lễ nghi, cách hành xử ở đình chùa. Từng chi tiết nhỏ thôi được truyền lại một cách giản dị chỉ bởi “các cụ xưa dạy thế”, “các cụ xưa bảo thế”. Từ tình làng đến tình cộng đồng rồi đến những điều lớn lao hơn như lòng yêu nước thiêng liêng, có lẽ đều bắt đầu từ những điều bình dị như vậy.
“Sông núi nước Nam vua Nam ở
Rành rành định phận tại sách trời
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời”
Lời thơ của người con làng An Xá – Thái úy Việt Quốc Công Lý Thường Kiệt trên dòng sông Như Nguyệt thuở nào vẫn được dân làng ghi nhớ. Không kể xiết bao nhiêu danh nhân văn hoá, những anh hùng liệt sĩ đã sinh ra từ ngôi làng An Xá này. Ngay trong khuôn viên đình An Xá, có một đài tưởng niệm ghi công và nhớ ơn 181 liệt sĩ của làng đã hiến dâng thân mình cho Tổ quốc.
Đất linh thiêng thì có người kiệt, mà người dân cũng chăm lo nhớ đến tiền nhân. Xưa kia, làng có tên là Cơ Xá (nghĩa là làng cơ động, thay đổi, ứng biến), sau lại thêm chữ “Phúc” mà thành Phúc Xá. Phải chăng điều đó đã khiến cho không gian của làng luôn khiến cho bất cứ ai đến đây đều tìm thấy sự bình yên, thay vì tài lộc.
Không gian làng cũng khiến tôi nhớ đến lời của một kiến trúc sư Việt khi nói về không gian của một nơi chốn. Người ta thường hay nghĩ không gian chỉ là một chiều vật lý với những vật chất hiện hữu (như nhà cửa, cách sắp đặt) mà quên đi một chiều không gian mang tính năng lượng (vui, buồn, ái, ố). Chiều không gian năng lượng lại do chính con người tạo ra.

Giữa trưa hè tháng 6, trong không gian mái đình Việt, giữa những hoành phi câu đối ghi lời người xưa, tôi tìm thấy một hàng chữ Quốc ngữ quen thuộc. Câu tục ngữ “Uống nước nhớ nguồn” được đặt ở một góc sân đình làng Bắc Biên như một lời nhắc nhở về tình yêu dành cho mảnh đất này, lòng biết ơn đối với tiền nhân và cả những người con An Xá – Bắc Biên đang không ngừng gìn giữ nét văn hóa làng giữa nhịp đô thị của Hà Nội.






