Rút quân khỏi đất Tống trở về, Lý Thường Kiệt biết rằng không thể chặn đứng đại quân Tống ngay tại biên giới. Thế trận ngài vạch là lùi từng bước có chủ đích: chặn đánh dọc đường cho địch hao mòn, rồi chặn đứng hoàn toàn ở một con sông.
Con sông ngài chọn là Như Nguyệt, tức sông Cầu, vì mọi đường bộ từ đông bắc về Thăng Long đều phải vượt qua nó, và quan trọng hơn: khi địch đi được đến đó thì đã mỏi, còn quân ta thì đánh ngay trên đất mình. Hàng vạn binh sĩ cùng hàng vạn dân phu được điều đến đắp chiến lũy bên bờ nam: lũy cao vài mét, mặt hướng ra sông dựng đứng, chân lũy cắm cọc tre, phía dưới thả thêm mấy lớp chông tre sắc nhọn.
Còn một cửa nữa phải khóa chặt: đường biển.
Xưa nay, thủy quân phương Bắc khi đánh nước ta vẫn men biển mà vào sông Bạch Đằng. Muốn vào được Bạch Đằng thì phải qua Đông Kênh — tuyến sông ven biển vùng Vân Đồn, cửa ngõ chiến lược từ biển dẫn vào hệ thống sông trong đất liền. Tại đây, Lý Thường Kiệt đã bố trí một đạo thủy binh tinh nhuệ, giao cho vị tướng lão luyện Lý Kế Nguyên trấn giữ.
Cuối năm 1076, đại quân Tống tràn qua biên giới. Tại ải Chi Lăng, quân ta cầm cự rồi rút dần, chuyển sang đánh nhỏ, phục kích và cắt đường vận lương của địch. Đúng như tính toán, quân Tống tiến đến bờ bắc sông Cầu thì buộc phải dừng lại trước phòng tuyến chiến lũy kiên cố của ta.
Muốn vượt sông để mở đường xuống Thăng Long, Quách Quỳ phải chờ đạo thủy quân từ ngoài biển đưa thuyền tới hỗ trợ. Đạo thủy quân ấy men biển tiến vào nhưng vừa đến Đông Kênh thì lọt vào trận mai phục đã chờ sẵn của Lý Kế Nguyên. Đội hình bị chia cắt thành từng đoạn, đoạn nọ không liên lạc được với đoạn kia. Chính vua Tống về sau thừa nhận: “thủy quân Tống đã đánh nhau với thủy quân Giao Chỉ lớn bé đến mười trận, nhiều chiến thuyền bị đánh đắm”.
Hạm đội Tống tan tác lui về vùng biển Liêm Châu, nằm đó cố thủ, chờ tin của đại quân trên bộ. Còn Quách Quỳ thì đóng bên bờ bắc sông Cầu, chờ tin của hạm đội. Hai cánh quân chờ nhau nhưng tuyệt nhiênkhông cánh nào biết cánh kia đang ở đâu. Cái tin mà Quách Quỳ chờ sẽ không bao giờ tới.
Không chờ được thủy quân, quân Tống rơi vào thế buộc phải tự xoay xở. Đầu tháng hai năm 1077, tại bến đò bắc sông Như Nguyệt, vào một đêm không trăng sao, quân Tống lặng lẽ bắc cầu phao vượt sông. Gần sáng, tướng Miêu Lý cho quân vượt sang bờ nam, nhờ quân số đông nên chúng tạm thời phá được một đoạn chiến tuyến. Quân ta phản kích, chiếm lại trận địa đã mất và chặn không cho quân Tống tiếp tục sang sông.
Vượt sông thất bại, Quách Quỳ đành ra lệnh án binh bên bờ bắc, quay về vớiviệc duy nhất là chờ.Trong khi đó, nhân dân ta đã rút sâu vào rừng, thực hiện kế thanh dã - vườn không nhà trống. Quân địa phương và dân binh liên tục tập kích, quấy rối, tiêu hao, triệt hạ các tuyến vận lương, khiến Quách Quỳ buộc phải xé nhỏ lực lượng ra mà giữ đường tiếp tế. Trong thư từ mặt trận gửi về triều đình nhà Tống có câu chua chát: “lúc ra đi quân có mười vạn, phu có hai mươi vạn; vì nóng nực và lam chướng, quân phu đã chết quá nửa, còn non nửa cũng đau ốm”.
Giữa lúc quân Tống đang hoang mang, kiệt quệ và tuyệt vọng thì trong một đêm tối trời trên phòng tuyến, từ ngôi đền bên sông bỗng vang lên tiếng người đọc thơ.
Loạt bài được viết dựa trên cuốn sách "Lý Thường Kiệt — Con người và sự nghiệp" của cụ Nguyễn Minh Tiến, xuất bản năm 1989; sự tích và gia phả của làng; minh văn chuông An Xá; hồ sơ Bảo vật quốc gia về chuông chùa Bắc Biên; Tây Hồ chí; cùng các tư liệu và ký ức địa phương. Đây là tác phẩm kể chuyện lịch sử – văn hóa từ góc nhìn của một người Phúc Xá – Bắc Biên, không phải công trình sử học chuyên khảo. Những chi tiết còn có dị bản hoặc chưa đủ căn cứ sẽ tiếp tục được đối chiếu, bổ sung.
Đi trước mười vạn đại quân ấy không phải là giáo mác mà là bài Lộ bố - một bài hịch hành quân được yết khắp dọc đường khi đại quân Đại Việt tiến sâu vào đất Tống đầu năm 1076, nhằm hướng châu Ung.
Năm 1074, nhìn từ Thăng Long, nước Đại Việt vẫn yên. Ngoài chợ vẫn có kẻ mua người bán, trên sông thuyền bè vẫn ngược xuôi. Nhưng mấy năm ấy, từ bên kia biên giới, những mẩu tin rời rạc lần lượt được
"Quy hoạch Thủ đô tầm nhìn 100 năm, suy cho cùng, không hẳn là xây thêm bao nhiêu cây cầu, bao nhiêu đại lộ hay bao nhiêu khu đô thị mới. Điều quan trọng hơn là chúng ta muốn trao lại cho thế hệ sau m
Năm 1068, vua Lý Thánh Tông bàn với đình thần: nhà Tống ở phương Bắc đang tìm cách liên kết với Chiêm Thành ở phương Nam để kẹp nước ta vào thế giữa. Muốn không bị đánh từ hai phía thì phải bình Chiêm