Nguyên xưa, đời vua Thái Tổ nhà Lý nguyên đóng đô ở Hoa Lư (tức phủ Trường An). Vì thành trì, địa thế hẹp hòi, không phải là chỗ vua chúa đóng kinh đô được, nên ý muốn rời đi nơi khác nhưng còn phân vân chưa định.
Chợt thấy có một con chó cái có mang, cao hơn hai thước, lông dáng rất lạ, từ ở bên Tàu chạy sang đến ở chùa làng ta (An Xá) mà đẻ được tám con. Vì vậy nhà vua cho là điềm hay, mới quyết định rời đô, mà ban xuống một đạo chiếu chỉ rằng:
“Xưa kia đời nhà Thương đến đời vua Vũ ban năm lần thiên đô, nhà Chu đến vua Thành Vương cũng ba lần rời đô, mục đích tìm nơi vượng khí để mong quốc đô lâu dài.”
Đến năm Canh Tuất, là năm Thuận Thiên thứ nhất, tháng bảy xa giá rời đô đến Đại La thành và cải gọi là Thăng Long Thành; gọi chùa An Xá là chùa Súc Sinh tự; dựng đền Càn Nguyên ở ngay vào Thần Tự làng An Xá để làm nơi nghỉ ngự và mở bốn cửa thành.
Năm Thuận Thiên thứ năm, đắp thành trì Thăng Long bốn bề bằng đất và đổi làng An Xá ra ở bãi nổi giữa sông, chuẩn cấp cho địa phận như sau:
A. Trên từ Sáp Hàn giáp với Tam Bảo Châu.
B. Dưới đến làng Ống Mác, Quyết Thủy.
C. Đông giáp với làng Thạch Cầu, Lâm Do, Gia Thụy, Ái Mộ.
D. Nam giáp làng Ống Mác, Quyết Thủy, Đông Tân, Hà Khẩu, Đồng Xuân.
E. Tây giáp với làng Quảng Bá, Tây Hồ, Nghi Tàm, An Hoa, Hòa Giai.
F. Bắc giáp làng Xuân Canh, Bắc Cầu, Gia Thượng, Gia Quất.
Lại chuẩn cho các bến đò ngang, đò dọc được quyền chở các hành khách, và chuẩn trừ các ngạch thuế cùng sưu sai tạp dịch để tỏ lòng khoan tuất với dân, làm khuôn phép cho các đấng đế vương rời đô định vạc, biết kính mệnh trời, thương nhân dân, có quy mô rộng rãi.
Từ đó dân làng ta biết lấy nghề trồng dâu, chăn tằm làm kế sinh nhai.
Đời vua Thần Tôn nhà Lý, niên hiệu Khánh Đức, nước sông lên to. Nhà vua đi kinh lý qua làng ta, thấy dân làng bắc bục mà ở trên mặt nước, mới giáng chiếu cải cho làng là làng Cơ Xá (nghĩa là nhà gác vậy).
Triều vua Dụ Tôn, niên hiệu Bảo Thái thứ mười, sáp làng ta thuộc về Kinh Bắc, xứ Thuận An phủ, Gia Lâm phủ, Gia Thụy tổng, Cơ Xá Châu.
Đến đời nhà Nguyễn, triều vua Thiệu Trị năm thứ sáu, hai quan Tổng đốc là ông Trương Uyển và ông Lê Văn Phú định sáp dân về Hà Nội nhưng dân không bằng lòng.
Mãi đến năm Tự Đức thứ tư, ông Tổng đốc Nguyễn Đăng Giai tâu về triều đình để sáp dân về tỉnh Hà Nội, thuộc huyện Thọ Xương, phủ Hoài Đức, tổng Phúc Lâm, làng Cơ Xá.
Năm Duy Tân thứ năm (1911), dân ta làm đơn kêu xin cải xã hiệu là làng Phúc Xá
Ghé thăm làng Bắc Biên (phường Bồ Đề, Hà Nội) để hiểu hơn về mảnh đất Thăng Long xưa – Hà Nội nay. Bên cạnh một Hà Nội của phố xưa nhà cổ, còn có một Hà Nội khác, Hà Nội của những “đất lề quê thói”, m
VHO - Hơn một nghìn năm qua, bên bờ bắc sông Hồng, một cụm di tích đình, chùa, đền vẫn lặng lẽ lưu giữ hồn cốt của kinh thành Thăng Long xưa. Đây là vùng đất linh thiêng, nơi hội tụ của nhiều di tích
(Ngày Nay) - Bên bờ Bắc sông Hồng, phường Bồ Đề được biết đến là vùng đất địa linh, mang trong mình những lớp ký ức văn hóa - tâm linh đặc biệt của Thủ đô Hà Nội. Xưa kia, vùng đất này thuộc không g
Với những người sinh ra và lớn lên ở Bắc Biên, "Làng" là những thứ không thể đo đếm được: những mối quan hệ kéo dài qua nhiều thế hệ, những ngày hội làng, những cuộc gặp gỡ ngày Tết, những ký ức tuổi
GĐXH - Nằm bên bờ tả ngạn sông Hồng, làng cổ Bắc Biên (phường Bồ Đề) đang lưu giữ một phần hình hài lịch sử Thăng Long – Hà Nội. Giữa áp lực đô thị hóa và quy hoạch tương lai, bài toán giữ gìn hồn cốt
Trước hết, xin cảm ơn ê-kíp VTV đã về với Bắc Biên và thực hiện một phóng sự đầy tâm huyết về vùng đất ven sông Hồng này. Chúng tôi tin rằng sau chương trình, sẽ có thêm nhiều người biết đến Bắc Biên