LÀNG TRONG SÔNG - Kỳ 2: Tờ giấy mục - Quả chuông đồng và Dòng chảy thời gian
26 tháng 8, 2026
Năm 1487, một văn bản thời Hồng Đức đã ghi ranh giới và cách chia đất của Cơ Xá. Từ quan viên đến thứ dân đều có phần; người tàn tật, cô quả cũng được tính riêng. Phần đất còn lại được chuẩn làm đất Tam bảo nên không phải nộp thuế.
Trong văn bản ấy, câu chuyện về nguồn gốc của làng lại xuất hiện: cơ nghiệp của bản châu gắn với đất tổ của người được ban quốc tính họ Lý.
Sang thế kỷ XVI, chiến tranh Lê – Mạc kéo dài. Thăng Long nhiều lần đổi chủ, nhà Mạc thay nhà Lê, sau đó vua Lê trở lại kinh thành trong khi quyền lực thực tế chuyển dần vào phủ chúa Trịnh.
Cứ mỗi lần người cai quản thay đổi, dân làng lại đem những giấy cũ đi trình. Quan cho tra xét; nếu đúng là sự thực thì lại chuẩn cho miễn như trước. Có lệnh còn dặn nha môn không được tự tiện trưng thu hay gây phiền nhiễu.
Mỗi lần như vậy, làng lại có thêm một tờ giấy để đặt cạnh những tờ cũ. Còn người Cơ Xá vẫn phải kể lại cùng một câu chuyện: tổ tiên vốn ở trong nội thành, đã nhường đất dựng kinh đô rồi ra sống giữa sông.
Qua nhiều thế hệ, giấy tờ ngày một dày; đến cuối thế kỷ XVII, chúng đã thành cả một lớp hồ sơ. Trong khi đó, làng vẫn ở giữa sông, năm nào cũng đi qua một mùa nước.
Người được giao sưu tầm và sắp xếp lại số giấy tờ ấy là Ngô Đăng Tiến, tư văn trưởng kiêm xã chính Cơ Xá.
Chùa An Xá khi ấy đã có một quả chuông, nhưng chiếc chuông còn nhỏ, không đủ chỗ cho những điều người Cơ Xá muốn giữ lại. Năm 1690, làng quyết định đúc một quả chuông lớn hơn. Minh văn ghi rõ cách góp: mỗi người hai mạch tiền cổ và một thăng gạo. Ai có điều kiện cúng thêm thì tên được khắc lên chuông.
Giữa những người góp một quan, hai quan, có cả một cung tần trong phủ chúa. Bà cúng năm quan, gửi giỗ cha tại chùa.
Khi hoàn thành, trên thân và trong lòng quả chuông có hơn năm nghìn năm trăm chữ Hán. Một pháp khí của chùa đã trở thành hồ sơ của cả một cộng đồng, viết bằng đồng.
Giấy có thể mục, hòm có thể mất, người giữ giấy có thể qua đời. Từ đó, những văn bản của làng nằm lại trên quả chuông.
Nhưng ngay ở phần ghi tên và chức tước của mình, Ngô Đăng Tiến lại thêm bốn chữ: Túc Đường nam — một tước hiệu ông không được ban.
Khi việc bị phát hiện, làng trình lên phủ liêu; quan phủ phạt Ngô Đăng Tiến ba mươi quan tiền cổ. Văn bản chép rằng bốn chữ ấy phải mài đi.
Mười một năm sau, tháng chạp năm Tân Tỵ 1701, người Cơ Xá khắc thêm vào chính quả chuông ấy một đoạn ở khe diềm ngang, ghi lại vụ ông bị phạt. Họ còn khắc rõ lý do:
"…để tránh về sau nghi ngờ bản khắc này giả mạo, cùng các bản khắc chỉ dụ cũng là giả mạo."
Người được giao giữ hồ sơ của làng, cuối cùng cũng thành một dòng trong hồ sơ ấy.
Ảnh 1: Chuông An Xá - Bảo vật quốc gia
Ảnh 2: Hai lệnh chỉ của Bình An vương Trịnh Tùng được khắc trong lòng chuông
Ảnh 3: Đoạn khắc bổ sung năm Tân Tỵ (1701) trên vành ngang giữa thân chuông An Xá, ghi việc Xã chính Ngô Đăng Tiến mạo xưng tước Nam và bị phủ liêu phạt 30 quan tiền cổ.
------------------
Bộ truyện được thực hiện như một lời tri ân tới các bậc tiền nhân đã gây dựng và gìn giữ để có được làng Phúc Xá ngày nay. Nội dung được xây dựng từ địa bạ, hồ sơ hành chính thời Pháp thuộc và nhiều tư liệu lịch sử liên quan; đặc biệt xin trân trọng cảm ơn cuốn “Làng Tôi” của cụ Chu Văn Uông, với những ghi chép và ký ức giàu hình ảnh đã giúp tái hiện cụ thể hơn con người, cảnh vật và những biến động mà làng đã trải qua qua từng thời kỳ.
Chiến tranh với Tống kết thúc năm 1077, nhưng châu Quảng Nguyên vẫn nằm trong tay địch. Đòi lại vùng đất này là cuộc đối đầu cuối cùng của ngài với nhà Tống — một cuộc đối đầu không có lấy một tiếng đ
Bài thơ ấy nhiều người Việt đã thuộc từ thuở đi học. Nhưng trước khi thành những câu chữ trong sách, nó từng vang lên đanh thép giữa một đêm chiến trận trên bờ sông Như Nguyệt.