Triều Nguyễn đã ghi Cơ Xá vào sổ địa bạ. Chưa đầy một thế kỷ sau, không gian Hà Nội quanh Cơ Xá đã đổi khác: đường phố mới được mở ra, các công sở lần lượt xuất hiện. Ngang qua dòng sông Hồng, một cây cầu thép bắt đầu được dựng lên.
Trước đó, giữa các khu cư trú của Cơ Xá là sông nước mênh mông; người dân qua lại bằng đò ngang, đò dọc. Rồi cầu Long Biên xuất hiện: phía trên là đường sắt cùng dòng người hối hả sang Hà Nội, còn phía dưới chân vẫn là bãi sông, thuyền bè và những xóm làng đã có từ nhiều thế kỷ.
Sự đổi thay không chỉ đến từ cây cầu thép. Trong những tập hồ sơ đầu thế kỷ XX, người ta còn tìm thấy hơn bảy mươi trang đơn xin “thuyền bài”. Mỗi chủ thuyền đều phải kê khai rõ thuyền của mình dài bao nhiêu, rộng bao nhiêu, dùng vào việc gì, để được chính quyền cấp giấy lưu thông và buôn bán.
Đến cả chiếc thuyền — thứ vốn gắn bó với đời sống của làng từ bao đời - giờ cũng bước vào hệ thống sổ sách của một bộ máy quản lý mới.
Giữa lúc ấy, chính người Cơ Xá lại chủ động xin đổi tên làng.
Ngày 2 tháng 3 năm 1911, các chức sắc cùng dân làng làm đơn xin đổi tên Cơ Xá thành Phúc Xá. Trong đơn, dân làng bày tỏ rằng tên cũ lâu nay “không được thịnh lợi” và mong ước tên mới sẽ mang lại nhiều may mắn, an lành hơn.
Hơn một tháng sau, ngày 6 tháng 4, lá đơn được chấp thuận.
Cái tên Cơ Xá vốn đã xuất hiện trên giấy tờ của làng suốt mấy trăm năm — trên bản khai địa bạ, trên những dòng chữ khắc vào chuông đồng và trong những tờ lệnh chỉ mà bao thế hệ người làng thay nhau mang đi trình báo.
Dù tên làng đã thay đổi, ngôi làng vẫn không nằm gọn trên một bờ sông. Dân làng vẫn sống phân tán thành nhiều khu quanh dòng nước: Trung Hà ở bãi giữa, Bắc Biên ở phía bắc, Tây Biên về phía thành Hà Nội, còn Cơ Xá Nam ở phía nam.
Về sau, Tây Biên không còn cộng đồng làng như trước, nhưng địa danh Phúc Xá vẫn ở lại bên phía Ba Đình; còn Bắc Biên tiếp tục duy trì cộng đồng cùng đình Phúc Xá và chùa An Xá. Vì thế, việc cái tên Phúc Xá ngày nay còn hiện diện ở cả hai bên bờ sông không phải là một sự trùng hợp. Câu chuyện của Trung Hà và Cơ Xá Nam sẽ còn được kể tiếp ở những phần sau.
Năm 1915, làng mới mang tên Phúc Xá được bốn năm; nhưng những đặc quyền cũ của Cơ Xá thì vẫn chưa mất đi. Trong một lá đơn xin xét lại các nghĩa vụ công ích, dân Phúc Xá vẫn tiếp tục viện dẫn những giấy miễn từ xưa, đồng thời giải thích thêm rằng làng ở giữa sông, cứ đến tháng tư, tháng năm âm lịch là nước lũ lại bao quanh cả bốn phía. Hơn hai thế kỷ sau ngày đúc chuông, những giấy tờ ấy vẫn còn được mang ra dùng.
Năm 1919, làng bầu phó lý ngay tại đình. Người được bầu là Lê Đăng Mão. Nhưng ông chưa được nhận chức ngay: quan huyện phát hiện ông chưa biết Quốc ngữ và yêu cầu ông đi học sáu tháng trước khi chính thức đảm nhiệm công việc.
Hồ sơ còn ghi lời phê: “người này hiền lành, có tài sản, không tiền án. Chuẩn y.”
Dù không còn tờ giấy nào ghi lại của kết quả sáu tháng sau đó, nhưng chỉ vài năm sau, trẻ sáu bảy tuổi ở Phúc Xá đã được quy định phải tới trường. Trường học dạy cả chữ Quốc ngữ, chữ Pháp và chữ Hán; học sinh nhà nghèo được cấp giấy bút trong ba năm. Những học trò giỏi nhưng gia đình không đủ điều kiện cho ra tỉnh học tiếp còn được làng trợ cấp.
Ký ức người làng còn giữ trọn hình ảnh ngôi trường xưa với hai dãy nhà, bốn lớp học chia làm hai ca sáng - chiều, một sân rộng và những cây bàng cổ thụ tỏa bóng. Mùa hè, tiếng ve trên tán bàng hòa với tiếng lá tre hai bên đường xào xạc trong gió từ sông thổi vào. Lũ trẻ con lại rủ nhau lấy nhựa mít bắt ve.
Đến năm 1923, cái tên cũ vẫn chưa hoàn toàn biến mất. Trong một công văn về làng, viên tri huyện thời đó còn chua thêm một dòng tiếng Pháp: nơi đây thường được gọi là Cơ Xá.
Cầu Long Biên đã kéo Hà Nội lại gần hơn, ngày càng nhiều người Phúc Xá sang bờ bên kia thành phố làm việc. Một trong số đó là ông Nguyễn Văn Bạch, làm thư ký ở Hà Nội. Năm 1923 ông làm đơn xin miễn phần công dịch ở quê nhà. Hội đồng kỳ mục của làng bác đơn với một lý do rất gọn: ông vẫn đang hưởng quyền lợi từ công sản của Phúc Xá, nên phải cùng gánh vác việc làng.
Ban ngày ông làm việc trong thành phố. Nhưng bên kia sông, ông vẫn có trách nhiệm của một người Phúc Xá.
Hà Nội đã ở rất gần Phúc Xá.
Nhưng Phúc Xá, đến lúc này vẫn còn nguyên vẹn là một làng.
Ảnh 1: Đơn xin đổi tên làng từ Cơ Xá thành Phúc Xá
Ảnh 2: Bản đồ Hà Nội năm 1926. Bạn sẽ thấy 3 vùng có chữ Cơ Xá trên bản đồ: Chữ Cơ Xá trên cùng bên bờ tả là Phúc Xá Bắc Biên, chữ Cơ Xá ghi trên bãi nổi giữa sông là Phúc Xá Trung Hà, chữ dưới cùng bên bờ hữu là Cơ Xá Nam
Ảnh 3: Bản đồ Hà Nội năm 1925
Ảnh 4: Hương ước làng Phúc Xá ghi rõ trường làng sẽ dạy chữ Quốc Ngữ, chữ Pháp và chữ Hán
------------------
Bộ truyện được thực hiện như một lời tri ân tới các bậc tiền nhân đã gây dựng và gìn giữ để có được làng Phúc Xá ngày nay. Nội dung được xây dựng từ địa bạ, hồ sơ hành chính thời Pháp thuộc và nhiều tư liệu lịch sử liên quan; đặc biệt xin trân trọng cảm ơn cuốn “Làng Tôi” của cụ Chu Văn Uông, với những ghi chép và ký ức giàu hình ảnh đã giúp tái hiện cụ thể hơn con người, cảnh vật và những biến động mà làng đã trải qua qua từng thời kỳ.
Cây cầu thép từng là chiếc cầu nối kéo Phúc Xá lại gần hơn với Hà Nội nhưng khi ngọn lửa chiến tranh bùng lên, nó trở thành nhân chứng cho bao thời khắc sinh tử của dân tộc.
Cuối thế kỷ XVIII, trật tự Lê – Trịnh sụp đổ, bóng cờ Tây Sơn quét qua Thăng Long. Năm 1802, Gia Long lên ngôi, lập ra triều Nguyễn và bắt đầu khôi phục lại hệ thống sổ sách hành chính trên cả nước. B
Năm 1487, một văn bản thời Hồng Đức đã ghi ranh giới và cách chia đất của Cơ Xá. Từ quan viên đến thứ dân đều có phần; người tàn tật, cô quả cũng được tính riêng. Phần đất còn lại được chuẩn làm đất T